Posted in Trang Chủ

Tháng bảy có một rằm

TỪ SÂM

SAM

người đàn bà tan vỡ trong ồn ào chợ búa
giá cả rập rình móc ví
ùn ùn người mua vàng mã
xuôi về cõi âm
một lần trong năm

thực

chồng chưa ăn cam một lần thỏa thích
đứa con thèm bịch bỏng ngô
người cõi tạm
miếng ăn núp vào cơn mưa

ngày khép lại từng giọt tiền vơi rụng
chị tần ngần nâng từng quả cam
thẻ nhang
bịch ngô bỏng
thực

vọng

lễ vong nhân
người đốt vàng mã như đốt rẫy
gạo muối bội thực lũ kiến
người ăn mày
bụng rỗng
nắng đầy tay
lối về cõi âm
chật chội

chị dừng lại bên đường
tan vào khất thực hành hương

trên bàn thờ
chỉ còn nhang
không còn cam
không bịch ngô bỏng.

Posted in Thơ | Tagged | 13 phản hồi

NƯỚC MẮT MÙA VU LAN!

Tản Văn

HOÀNG THẢO CHI

VL2

Rằm tháng Bảy âm lịch năm ngoái, có công việc đi ngang qua nghĩa trang liệt sỹ quốc gia Trường Sơn, chúng tôi rẽ vào thắp hương tại đó. Đã gần trưa, nghĩa trang nóng và vắng bóng người. Khi cắm xong bó nhang vào lư hương trong nhà bia tưởng niệm, chúng tôi thành kính cúi đầu. Đọc tiếp

Posted in Văn | Tagged | 21 phản hồi

CÔ  NÀNG  “MÙA-THU-LỠ-TRỚN”

 Cà-phê Vỉa Hè

Tám Xóm Chùa

NAm-thi

CHUYẾN về quê nầy tôi vẫn đi tàu SE 4 như thường lệ, 10 giờ tối khởi hành ở ga Hòa Hưng, đến hơn 08 giờ sáng tới ga Diêu Trì, giờ nầy thuận lợi để mấy ông bạn trẻ đón rồi cùng nhau lên Thị xã Bình Định ăn bánh xèo điểm tâm, lai rai cà phê cà pháo, con cà con kê có khi xế chiều mới về đến nhà trên Tây Sơn. 

Kế hoạch hành quân như vậy đã bao lần tiến hành êm xuôi nhưng lần nầy xảy ra lắm chuyện nhiêu khê trên đường hành quân ngay từ khi mới lên tàu. Số là không còn vé giường nằm nên tôi đành đi toa ghế mềm. Tội nghiệp cái thân già phải ngồi suốt đêm.  Cũng may, tàu lửa mấy năm gần đây được tân trang, ghế êm, máy lạnh, toa-let khá sạch, tối có chăn để đắp giống như đi máy bay. Hành khách được thoải mái, không còn cảnh nhếch nhác như trước đây. 

Tôi ngồi ghế bên cửa sổ. Mãi đến khi tàu sắp chạy mới có một cô nàng đến ngồi bên cạnh. Người đồng hành của tôi mặc áo khoác có mũ trùm kín đầu, mặt che khẩu trang lớn chỉ chừa hai con mắt, tay mang găng, chân mang vớ. Nói chung là kín mít từ đỉnh đầu đến gót chân, giống như một “nữ ninja”. Thật khó đoán tuổi tác của “nàng”. May thay khi mới đến nàng nhìn tôi có lẽ cũng để quan sát, tìm hiểu “đối tượng” như tôi, qua ánh mắt tôi đoán nàng chưa già như…tôi, giỏi lắm U 50 thôi. Vậy là tôi yên tâm có một người đồng hành không đến nỗi lọm khọm, cáu kỉnh.

Sau khi xếp chiếc va-li nhỏ dưới chân ghế trước, nàng quay lại phía đầu toa xe, nhờ vậy tôi lại có dịp quan sát nàng từ phía sau. Quan sát phụ nữ từ phía sau lưng dễ đoán được độ tuổi vì họ thường phô ra những thứ thật trong khi ở phía trước thường gặp đồ giả hoặc ngụy trang …Với những thông tin cập nhật tôi điều chỉnh từ U 50 sụt xuống U 40, nghĩa là thuộc diện cuối Thu đầu Đông của cuộc đời – lứa tuổi của nhân vật trong truyện ngắn Mimosa của Hoàng Thảo Chi mà Phan Bích Mai, nữ thi sỹ xứ Huế gọi là tuổi “mùa-thu-lỡ trớn” do phanh không kịp trượt qua đông một tí. 

Tôi bỗng nhớ đến lý thuyết “mùi hồi xuân nồng nàn, ngầy ngậy” mà Hoàng Thảo Chi đã viết trong truyện ngắn “Mimosa”. Nhất định trong hơn mười tiếng đồng hồ đồng hành tôi sẽ kiểm chứng điều nầy, hy vọng khứu giác của tôi không xuống cấp trầm trọng như thị giác và thính giác – mắt mờ, tai lảng nhưng có thể ngửi – vì không ai có thể giữ cho mùi cơ thể không thoát ra được. Hoàng Thảo Chi viết: 

“Phụ nữ thì ai chả thơm. Hương thơm cũng là thứ vũ khí lợi hại…Phụ nữ tuổi hồi xuân lại giống như bông hoa tự tỏa ra một mùi hương là lạ, nó nồng nàn, ngầy ngậy, vô cùng quyến rũ… Nó giống như từ trường của một thanh nam châm vậy. Bọn đàn ông mà rơi vào đấy thì chỉ có từ trọng thương đến hy sinh anh dũng mà thôi” (trích từ “Mimosa”) 

Theo lý thuyết trên, “bọn đàn ông” không phân biệt trẻ già đều có thể là nạn nhân của cái mùi kỳ dị ấy. Tôi tuy già nhưng vẫn là đàn ông, nếu rơi vào từ trường ấy chắc tôi cũng trọng thương hay tử trận như ai. Tôi vừa tò mò khám phá cái mùi hồi xuân ấy lại vừa sợ toi mạng, nếu không tự kiểm soát mình cũng có thể toi mạng như chơi, chí ít cũng bị rủa là già dịch, già dê, già mất nết. 

THANH nam châm” im như thóc, bật ngửa ghế, nằm thẳng cẳng, hai chân gác trên va li. Cứ như phần còn lại của thế giới trong đó có tôi và hàng trăm hành khách cùng toa xe không có mặt trên hành tinh nầy. Như một người đàn ông lịch sự, tôi cố tình nép mình phía cửa sổ, nhường tay ghế bên trái cho nàng. Tàu chạy khoảng ba giờ, có lẽ đến ga Mường Mán, đèn bật sáng để hành khách lên xuống. Tôi nhìn qua thấy nàng vẫn nằm im, đầu ngoẹo qua vai trái, có lẽ nàng cố ý không ngã đầu phía tôi. Tôi cảm thấy mỏi nhừ vì suốt mấy tiếng đồng hồ cứ nép tựa vào thành tàu, cho nên khi thấy nàng nằm ở tư thế đó, tôi cũng xoay người đổi qua phía nàng cho đỡ mỏi. Tàu lại chạy, đèn trong toa lại tắt, chỉ còn ánh sáng tờ mờ từ đầu toa rọi lại. 

Tôi ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Trong lúc mơ màng, tôi cảm thấy vai bên trái của mình nằng nặng và thoang thoảng một mùi hương ngầy ngậy, pha lẫn mùi dầu gội đầu. Tôi tỉnh hẳn. Thôi chết tôi. Thanh nam châm đang tựa đầu trên vai tôi ngủ ngon lành, vô tư, vô tội. Cái vai già nua tội nghiệp của tôi đau khổ chịu đựng. Từ ấy tôi không dám trở mình sợ làm nàng thức giấc. Dẫu sao tôi cũng là đấng trượng phu sẵn sàng hiến tặng cho ai đó cần một bờ vai để tựa. 

Ra đến ga Nha Trang, thanh nam châm thức giấc, thoáng nhìn tôi nhưng vẫn im như thóc. Nàng ngồi thẳng lưng, xoay vai sang trái rồi sang phải giống như con mèo co duỗi sau giấc ngủ dài. Tôi đứng dậy để ra ngoài. Nàng co chân để tôi bước qua. Tôi cần vận động cơ thể để đỡ mỏi và hít thở không khí tự nhiên ở khoảng giữa nối hai toa tàu. Gió biển lồng vào giúp tôi tỉnh táo lại sau một đêm vất vả, chật vật làm đấng trượng phu. Tôi vui mừng vì thấy bờ vai của tôi vẫn còn xài tạm được, vậy mà lâu nay tôi cứ tưởng nó đã thành hàng phế thải. 

Hít thở khí trời tôi mới chợt nhận ra thiếu vắng cái mùi thơm thơm, ngầy ngậy mà Hoàng Thảo Chi đã mô tả. Nó  – chính nó “tự tỏa ra”, bao phủ lấy tôi suốt cuộc hành trình vừa qua. 

TÀU về gần đến ga Diêu Trì. Khi tôi chuẩn bị hành lý. Bỗng thanh nam châm kéo khẩu trang xuống, trật mũ ra phía sau, nói với tôi: “Chú đi mạnh giỏi. Đêm qua thấy chú ít ngủ…”. Tôi cứng họng vì mãi nhìn gương mặt đầy đặn trắng trẻo, mái tóc dày hai-lai màu hạt dẻ của nàng. Thì ra, nàng cũng biết tôi mất ngủ. Câu nói bỏ lửng của nàng có thể hiểu như một lời xin lỗi và cảm ơn. Nếu đó là một sự đền bù thiệt hại cho bờ vai mỏi nhừ của tôi thì tôi sẵn sàng chấp nhận.

Đến lúc ấy, tôi ngộ ra lý thuyết “mùi hồi xuân” của nhà văn Hoàng Thảo Chi hoàn toàn chính xác. Với gương mặt ấy, tôi có thể khẳng định người đồng hành của tôi chính là một “cô nàng mùa-thu-lỡ-trớn” như nhà thơ Phan Bích Mai đã định danh. 

Để kiểm chứng nhận định của mình, nên khi uống cà phê ở thị xã Bình Định, tôi mượn laptop của bạn tôi để tìm đọc lại bài thơ “Mùa  Thu Lỡ Trớn” của nữ sĩ xứ Huế Phan Bích Mai, tôi xin chép lại một khổ thơ để bạn xem tôi nói có trúng không nhe: 

Đêm dở người buông lời ca một nửa
Đừng bông đùa vì em sợ chính em
Đếm tuổi mình mùa không chịu đặt tên
Hay em gọi: em-mùa (thu) -lỡ-trớn 

Con tàu đưa “mùa-thu-lỡ-trớn” của tôi về đâu? Tôi không biết vì tôi đâu có cơ hội hỏi nàng. Nhưng dường như mùi hương thơm thơm ngầy ngậy ấy vẫn còn thoang thoảng bên tôi. Tiếc quá, tôi không có cơ hội để chết, hay trọng thương mà chỉ mỏi vai chút chút thôi. 

TÁM XÓM CHÙA

(15-8-2015)

Posted in Café Vỉa Hè | Tagged | 40 phản hồi

MÀU NẮNG CŨ

NGUYỄN AN BÌNH

suadongxoai2

Có lẽ nào chúng ta không còn nhớ được mặt nhau
Khi bao mùa lá sầu đông vẫn rơi hoài lặng lẽ
Đàn dơi ăn đêm đập cánh bay chỉ chao nghiêng rất khẽ
Cũng đủ làm giật mình những chú sóc nhỏ giữa khuya.

 Bóng thời gian làm dòng sông thành khúc ruột chia lìa
Mưa bên nầy đêm đêm có làm em mất ngủ 
Để bờ bên kia tôi nhớ thương hoài màu nắng cũ
Đợi đón ai về sao chẳng thấy chuyến đò sang.

 Chiều mênh mông, mênh mông núi lạnh trắng đầu ngàn
Đời cũng đành trôi xuôi lẻ loi như bao cành củi mục
Nghe hơi thở mỏng manh tan trong làn sương mờ đục
Bay giữa dòng người chợt hiểu thế nào là trái tim đau.

Có lẽ nào chúng ta không còn nhớ được mặt nhau
Khi bao năm tháng mưa xưa vẫn bay qua miền ký ức
Để tôi leo lên dốc tình chỉ thấy bão dông đánh cho rát ngực
Những cánh dã quỳ vàng có giữ lại chút mùi hương .

 Cho tôi mơ giấc mơ lang thang trên những cung đường
Có em đứng bên đời gần khung cửa màu khói nhạt
Và tình yêu tôi cũng biến thành khúc ru biển hát
Thương những con dã tràng suốt đời mãi xe cát biển đông.

 Ai đã mang đi những cánh bèo xô dạt giữa dòng
Em và tôi cứ thế chia tay không một lời từ giã
Để mắt vẫn ngùi trông một người đã trở thành kẻ lạ
Cuối cuộc tình buồn biết ai nhớ lại màu nắng xưa.
7/8/2015

 

Posted in Thơ | Tagged | 43 phản hồi

NGÀY KHAI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NMSU, Las Cruces

ĐỖ TRỌNG NGHĨA

trongnghia

Xin mãi là bóng mát cho con.

Như bóng cây đứng ở sân trường.

Nhưng bóng ấy thay đổi nhiều, con thấy

Nắng sớm trưa khác lạ xế chiều vàng!

Con đã lớn, bóng không còn vươn tới

Phía trước con là đại lộ chói chang

Con tiến bước cho cuộc đời con nhé

Là của con, tất cả thuộc về con.

GM Tặng con gái

Posted in Thơ | Tagged | 32 phản hồi

TỪ “DẤU CHÂN TRÊN CÁT” ĐẾN “TRO BỤI TRẦN GIAN” *  

Bình Luận Tác Phẩm

Trần Hoài Anh           

 (Đọc tiểu thuyết Bàn tay nhỏ dưới mưa của Trương Văn Dân, Nxb. Hội Nhà văn, 2011)

  1. Không phải ngẫu nhiên, trong âm nhạc Trịnh Công Sơn nỗi khắc khoải phận người với những ám ảnh về Cái chết – Tình yêu và Nỗi Cô đơn lại luôn bàng bạc trong ca từ của ông với những nỗi niềm mà mỗi khi cất lên tiếng hát ta không khỏi thấy se lòng…

                   Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi
                   Để một mai tôi về làm cát bụi
                   Ôi cát bụi phận này….           

                                                                               (Cát bụi – Trịnh Công Sơn)

Đọc tiếp

Posted in Văn | Tagged | 12 phản hồi

Làm ly cao hổ cốt cái đã


TỪ SÂM 

           Văn Lâm là cái tên cúng cơm của thằng bạn tôi, biệt danh của hắn là Lâm “rừng”. Đã Lâm lại còn rừng thế mới hay. Lâm ‘rừng” vì trời gắn mạng nó với rừng. Từ tổ trưởng, nay là giám đốc ban quản lý khu bảo tồn quốc gia, cấp đó, chức đó cũng là quan kha khá trong xã hội. Mà nghiệt nỗi, hắn xuất thân từ nghề khai thác cá biển. Ra trường, không chịu được sóng, hắn bỏ biển làm nhân viên trông coi rừng phòng hộ. Rồi nghiện rừng từ đó.

Đọc tiếp

Posted in Văn | Tagged | 38 phản hồi