THẦY TÔI VÀ VỤ  ÁN  NGÒI  VIẾT LÁ TRE

         Nam Thi

 * Truyện kể nhân Ngày Nhà Giáo Việt Nam 20-11

Bạn học của tôi thuở ấu thơ ở Bình Khê, sau hơn nửa thế kỷ, nay không còn mấy người, số chết trận, số chết bịnh, chết già, số còn sống cũng gần đất xa trời. Còn các thầy cô chết gần hết. Tôi may mắn có ông thầy giáo làng, người khai tâm cho tôi – lúc trước gọi là “vỡ lòng”, nay gần tám mươi nhưng vẫn còn mạnh khỏe, đang sống ngay tại làng tôi, nhờ vậy mỗi lần về quê tôi lại được thăm thầy và được thầy xem như một người bạn có thể hàn huyên tâm sự. Đó là thầy Trần Đắc.

 Thật ra thầy chỉ hơn tuổi tôi đúng một con giáp nên khi đã lớn tôi gọi thân mật là Anh Năm. Lúc vào học lớp vỡ lòng của thầy tôi lên tám và thầy hai mươi. Đó là vào năm 1955, khi bên “Quốc Gia” về “tiếp thu” vùng Bình Khê theo hiệp định Genève 1954. Sự kiện lớn nhất trong đời tôi là lần đầu tiên thấy chiếc xe hơi nhà binh bốn bánh ở Phú Phong – sau nầy tôi biết đó là xe Dodge chở lính thường gọi là “Đốt cách” ( “cách” là quatre tiếng Pháp là số bốn, tức xe Đốt 4 bánh). Bọn trẻ chúng tôi gí mũi vào ống khói để ngửi, cái mùi mới lạ của nền văn minh cơ khí mà sau nầy tôi mới biết là rất độc hại, gây ô nhiễm không khí. Còn sự kiện “vĩ đại” thứ hai tôi sắp kể dưới đây.

 Tôi vốn là một đứa trẻ lêu lổng, suốt ngày theo người lớn ra đồng bắt cá, bắt cua, bẫy chim, săn chồn, bắt chuột và tham gia lắm trò tinh nghịch của trẻ mục đồng, hoặc ra sông Côn hụp lặn, nên da đen như cột nhà cháy, chân lúc nào cũng đầy “mụt đau” do té ngã, có khi đầu cạo trọc lóc vì hắc lào. Buổi chiều hôm đó trời vừa tạnh mưa, tôi chạy từ xóm Cũ lên xóm Mới vì thấy nhiều người dắt con lên nhà từ đường họ Quách, ngôi nhà đồ sộ có sân rộng thời nào cũng dùng để tổ chức  tập hợp, mit-ting. Thầy Năm đang ghi tên học trò xin học, thấy tôi đứng xớ rớ, ngoắt lại:

 – Ê, Út, mầy muốn ghi tên học không? Cha mầy hay chữ, chẳng lẽ mầy chịu dốt, “đội bổi thui trâu”?

 Ngày xưa ở làng, người đàn ông nào dốt đặc cán mai, đầu óc bã đậu, không tham gia bất kỳ việc làng “ danh giá” nào thì chỉ còn chờ khi làng có cúng tế, giết heo mổ trâu bò thì được phân công kiếm cành cây khô, rơm hay những thứ cháy được gọi chung là “bổi”để thui trâu bò.

 Cha tôi là nhà Nho chuyển sang Tây học, từng theo học Collège Quinhơn, là người “hay chữ” một thời ở địa phương. Ông mất sớm, sau đó mấy năm mẹ tôi cũng qua đời, nhưng chị em tôi vẫn còn giữ nguyên tủ sách của ông gồm sách chữ Hán, chữ Tây, chữ quốc ngữ. Tôi vẫn thường lật quyển Petit Larousse để xem những hình minh họa lạ mắt, đương nhiên tôi chẳng hiểu mô tê gì.

 Các chị tôi đều là bạn học của thầy Năm trong thời Việt Minh nên thầy thường đến nhà chơi. Câu nói “khích tướng” của thầy khiến tôi cứng họng.

 Không đợi tôi trả lời, thầy Năm  bảo:

 – Tao ghi tên mầy rồi, về bảo chị Bốn mầy mua vở, nghe thôn “a-lô” là lên miễu Buồng Tằm học, nghe không?

 Tuy dặn tôi rồi, nhưng chiều tối thầy Năm cũng xuống gặp chị tôi. Hôm sau, chị tôi qua Phú Phong mua tập vở, bút mực và xấp vải để may áo quần cho tôi đi học. Thực ra, tuy chưa đến trường nhưng ở nhà các chị tôi đã chỉ cho tôi biết đọc, biết viết, làm toán chút chút rồi. Nhưng đi học ở trường thì mất đi chơi, nên khi nghe “lịnh” của thầy Năm, tôi thực sự thấy oải. Chẳng riêng gì tôi, nhiều đứa khác về sau mỗi lần đến trường là có cha xách roi đi sau lừa như lừa bò, vừa đi vừa khóc như sắp ra pháp trường.

 Lớp của tôi với sỹ số hơn hai chục, cả trai lẫn gái, bá nạp đủ mọi lứa tuổi, có người đã biết chữ, đa số mù chữ vì trong thời chiến tranh hầu hết trẻ em chưa được đến trường. “Hương trường Thuận Nghĩa” là tên chính thức của trường tôi. Làng tôi vốn có một ngôi trường hai phòng học xây bằng gạch lợp ngói  từ thời Pháp ở cạnh nhà tôi nhưng chính quyền mới đã tháo dỡ đem lên Kiên Mỹ làm trụ sở xã Bình Thành. Vì vậy, chúng tôi học tạm ở miễu Buồng Tằm, tức miễu Vĩnh Phúc, ở đầu làng do những người nuôi tằm dựng lên để thờ ông tổ nghề tằm tang từ cả trăm năm trước. Miễu xây rất bề thế nhưng đã bị đập phá chỉ còn mái ngói và mấy bức tường đổ, gạch vụn, vôi vữa bừa bãi. Bàn học là những tấm ván, cánh cửa cũ kê xiu vẹo, học sinh phải đứng học vì không có cái gì để ngồi. Nhờ biết chữ rồi, nên tôi được xếp học lớp Năm ( lớp 1 bây giờ), vài tháng sau người ta mở lớp Tư (2) mà thiếu học trò nên tôi và ba bạn khác được đôn lên lớp Tư ở Kiên Mỹ, cứ thế bọn tôi lại được “đôn” một lần nữa, đến cuối năm tôi đã học hết lớp Ba trên trường Cầu Vôi của xã Bình Thành. Ba lớp một năm. Coi như “thời thế tạo anh hùng” chứ chẳng giỏi dang gì.

 Trở lại chuyện thầy Năm. Hồi đó, chắc thầy không qua lớp sư phạm cấp tốc nào. Sau nầy, thầy tự học đỗ Trung học Đệ nhất cấp và tiếp tục dạy Tiểu học cho đến 1975. Thầy dạy giỏi nổi tiếng, ai bã đậu cỡ nào qua tay thầy đều có thể đọc, viết sau mấy tháng. Tùy trình độ của từng nhóm học sinh trong lớp bá nạp của tôi, thầy có giáo trình riêng. Chính nhờ vậy mà tôi và mấy người bạn mới “nhảy lớp” được – từ hồi đó là học “băng”. Cho đến bây giờ tôi vẫn biết ơn thầy nhiều nhất trong số hàng trăm thầy cô đã dạy tôi từ tiểu học lên đại học. Nhưng mỗi khi nhớ về thầy, tôi không thể nào quên những trận đòn “toét đít” của thầy, thường bằng roi mót hay cành rù rì. Roi mót là những nhánh tre già tuy nhỏ nhưng dẻo, mỗi khi roi quất xuống nghe tiếng gió“trót, trót”, roi chưa chạm đít đã nhí nhỏm, lằn roi để lại trên mông dài như con trùn khoan. Còn roi rù rì thì dài, mềm, thường dùng để đánh tập thể – đứa nhỏ con hơn nằm chồng lên đứa lớn, đứa trên bị đánh, đầu roi quặp vào vế, hông đứa dưới…Cái uy của thầy khiến học sinh chăm học, tiến bộ nhanh. Bây giờ người ta cấm đánh học trò, nhưng cái đám học trò bọn tôi thời ấy không có roi e không xong, ngay cả ở nhà cũng cần cây roi của cha mẹ mới chịu học bài, vì toàn là lũ “rắn đầu, biếng học”, quen bắt cá, bẫy chim hơn cây bút, quyển vở.

 Nhưng không chỉ có cây roi, thầy còn có nhiều “tuyệt chiêu” để trị đám học trò quỷ quái chúng tôi. Tôi dám chắc nếu có cơ hội làm thám tử, thầy dư khả năng làm một Sherlock Holms. Xin nói thêm, thầy Năm còn nổi tiếng từ thời đi học về tài thiện xạ bằng giàn thun và ná tên (nỏ). Tôi đã từng được thầy ưu ái cho đi theo làm trợ thủ cho thầy trong những lần đi bắn chim ban đêm. Dưới ánh đèn pin chim sẻ ngủ trên cành đu đủ bị thầy dùng giàn thun “tỉa” từng con, mỗi hòn đạn là một con, gọn đến nỗi con ngủ kề bên không hay biết. Thầy chỉ dùng ná tên để bắn cu đất. Mỗi lần đi bắn đêm thầy chỉ mang theo ba mũi tên, vì chỉ khi nào bắn trật mới mất mũi tên, có khi bắn hàng chục con chưa mất mũi tên nào. Vì vậy, những mũi tên của thầy nâu sẫm màu máu chim. Người trong làng đặt cho thầy hỗn danh “Năm Mèo”, có lẽ do tài săn bắn của thầy.

 Trở lại tài thám tử của thầy. Chung quanh trường tôi, có nhiều soi trồng mía, đậu phụng – “soi” là đất pha cát bồi ven sông. Có lần chủ đất tới trường mắn vốn vì đậu phụng bị học trò nhổ trộm trong giờ ra chơi. Ông ta rình thấy mấy tay trộm nhưng không nhìn rõ mặt được. Chỉ cần năm phút là thầy tìm ra thủ phạm. Thầy bảo cả lớp ngửa bàn tay rồi nhổ nước bọt vào đó. Thầy đi qua một lượt là xách tai mấy thủ phạm lên trước bảng đen. Hết chối cãi vì nước bọt còn đục ngầu màu đậu phụng sống chưa kịp trôi vào bụng. Lần khác, một vụ trộm mía. Thầy bảo cả lớp thè lưỡi và nắm cổ mấy tay trộm mía vì cái lưỡi bị bã mía xước đỏ au.

 Riêng lần chị Đào bị mất ngòi bút lá tre mới cảo mà thầy điều tra ra tức khắc mới tài. Đến bây giờ tôi vẫn chưa đoán ra thủ phạm là ai vì thầy không công bố sau khi vụ án kết thúc. Hồi đó ngòi bút lá tre quý lắm, mỗi năm cha mẹ chỉ sắm cho một ngòi, mòn phải mài lại để dùng. Bọn con trai vụng về, nghịch ngợm nên ngòi bút thường bị “chách” do bút rơi xuống đất hoặc chấm vào bình mực mạnh tay khiến đầu ngòi bị biến dạng do chạm vào đáy lọ mực.

 Bị mất ngòi bút, Đào khóc như cha chết. Sau khi biết chắc là Đào bị tay quỷ quái nào đó trong lớp đánh cắp, thầy cho tập hợp cả lớp, hai tay vòng trên bàn. Thầy sai anh Toại, trưởng lớp, ra bụi tre hái mấy chục “tiêm” lá tre non còn xoắn lại bằng chân nhang. Thầy cắt thành mấy chục khúc bằng nhau, rồi bảo học trò hả miệng, đút cho mỗi nhóc một cộng, bảo giữ chặt một đầu giữa hai hàm răng. Xong, thầy bảo:

 –  Thầy muốn em nào lỡ lấy của bạn thì tự nguyện đem trả. Nếu không thì thầy cũng tìm được đứa ăn trộm và sẽ đuổi học. Thầy cho năm phút để tự thú. Nếu không, cọng tiêm lá tre trong miệng của đứa ăn trộm sẽ mọc dài ra…Cái miễu nầy linh lắm, không qua mặt được quỷ thần đâu.

 Thầy nhắc đi nhắc lại câu chót mấy lần.

 Cả lớp im phăng phắc, con ruồi bay qua cũng nghe tiếng đập cánh. Thầy ngồi trên bàn đảo cặp mắt “mèo” nhìn. Năm phút trôi qua, không có ai đầu thú. Thầy “cho” thêm năm phút nữa. Vẫn thế. Cuối cùng thầy kêu từng người lên để thu lại mấy chục cộng tiêm lá tre…

 Vụ án kết thúc. Chẳng rõ thủ phạm là ai. Nhưng nạn nhân đã thu lại được ngòi bút do thầy trao hôm sau. Chính Đào đã khoe như thế.

 Năm mươi lăm năm sau. Thầy Năm đã gần tám mươi tuổi, sống với người con trai út trong ngôi nhà cổ bên bờ sông Côn. Hai người con trai lớn làm ăn khá giả ở Sài Gòn. Tuy đã có tuổi nhưng thầy vẫn khỏe và minh mẫn, mắt vẫn tinh anh, dáng đi vẫn chững chạc, khoan thai. Với chiếc sõng nhỏ thầy vẫn thường đi câu, thả lưới trên sông để tiêu khiển. Còn sở trường bắn chim thì từ lâu thầy từ bỏ hẳn, nên vườn nhà thầy lúc nào cũng đầy tiếng chim, người ta bảo do trước kia thầy “sát” chim nên bây giờ “tu”.

 Một lần về quê, tôi ghé thăm thầy. Bây giờ hai chúng tôi đã là bạn “già” của nhau, hễ gặp nhau là lai rai mấy sợi. Thầy nướng mấy con cá sông mới câu được để chấm muối ớt. Thầy không uống nhiều nhưng chiều nào cũng uống. Rượu trắng của thầy rất ngon và an toàn, không có chút mùi khê, cái hậu rất ngọt, vì thầy đặt lò rượu trong làng nấu riêng hàng chục lít để dành uống dần để tránh rượu pha cồn Tàu mua ngoài chợ.

 Tôi nhắc lại “vụ án”  ngòi bút lá tre bị năm xưa, rồi hỏi:

 – Anh Năm nè, chớ hồi đó anh tìm ra đứa ăn cắp thực à?

 –  Sao lại không thực. Thầy cười và nâng ly rượu, khà một hơi, rồi tiếp. Thằng đó sau nầy đi lính địa phương quân tử trận. Thật tội. Nó bị rơi cây bút, ngòi bị gãy, nó không dám xin cha nó vì sợ bị đánh dập mình, nên lén rút ngòi bút của con Đào. Hôm đó, tao kêu nó đến nhà, chưa hỏi nó đã khóc, đem trả ngòi viết của con Đào. Tao cho nó một ngòi khác …Nó chết thật tội. Thầy nâng cốc rượu uống hết phần còn lại.

 Trong làng, có bảy thằng lớp tôi tử trận. Theo lời thầy thủ phạm là một trong số đó. Thầy không tiết lộ tên hắn mà tôi cũng không muốn biết làm gì. Thầy rót cho tôi ly rượu, khề khà giải thích:

 –  Mẹo vặt lừa con nít thôi mà. Đứa ăn trộm sợ cọng tiêm lá tre mọc dài ra nên dùng răng cắn chặt ở đầu mỏm, khiến nó dập. Thấy là biết ngay…Hơn nữa, khi bọn bay ngậm cọng tiêm lá tre, tao đã thấy mặt nó tái mét, mắt lấm la lấm lét…

 Như vậy, sau hơn nửa thế kỷ vụ án trộm ngòi bút lá tre đã được giải mật **

 * Nam Thi

 “ Với lòng kính trọng và biết ơn người thầy cũ. Các nhân vật trong truyện đã được thay tên, một số sự kiện có ít nhiều hư cấu nhưng không quá xa thực tế”. 

Bài này đã được đăng trong Văn và được gắn thẻ . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

31 Responses to THẦY TÔI VÀ VỤ  ÁN  NGÒI  VIẾT LÁ TRE

  1. minh triết nói:

    Bài viết của anh gợi tôi nhớ lại những kỷ niệm thời nhỏ dại. Cũng như lớp đàn anh ( như anh ), chuyện học ngày ấy quả là khó khăn. Phải nói là gia đình có truyền thống hiếu học mới vượt qua. Quê anh – Thuận Nghĩa -nơi có dì út tôi lấy chồng sinh sống ,đã gắn bó với tôi đến bây giờ. Trường anh học khi ấy , hình như tôi cũng từng ghé qua .
    Giống như anh, những lúc còn ở quê ông ngoại Bình Nghi, tôi may mắn được Thầy Cửu , sáng nào cũng đèo thằng nhóc mặt mũi tèm hem lên tận Phú Xuân ( ? , trên càu nước xanh ) học trong ngôi trường chỉ có một lớp..Rồi thời gian chiến tranh, lưu lạc khắp nơi. Đến khi có điều kiện về thăm thầy , có lúc thầy đi vắng và lần cuối thầy không còn nữa.Tuổi của chúng ta , Thầy cô là hình ảnh đáng kính, đạo đức , nhân cách mẫu mực.Thời ấy , đâu có ngày 20/11.chỉ đến Tết ,lặn lội đường xa với món quà nho nhỏ đồng quê với tấm lòng trân trọng, biết ơn thầy .Cảm ơn bài viết của anh.

    • Tám Xóm Chùa nói:

      Khi nào rảnh anh vào mail cho tôi biết dì của anh là ai nhé, chắc tôi biết. Tôi nhớ bên Bình Nghi có địa danh là Cây Xoài Một ở ngả ba đi An Thái. Nay cây xoài đã chết từ lâu nhưng địa danh Cây Xoài Một vẫn còn. Cầu Nước Xanh ờ An Xuân, nơi xảy ra trận đấu võ sống mái của anh hai Hượt với cả tiểu đội lính SĐ Mãnh Hổ (Đại Hàn) trang bị dao rừng. Hai Hượt một mình tả xung hữu đột thoát được trận đó, mình đầy thương tích, không chết là may ( mấy năm trước tôi còn gặp anh).

      Hình như trường anh học gần vườn xoài Xã Cảnh, đường vào Đồng Sim ( nay là khu công nghiệp). Tội học lớp Năm ở miễu Buồng Tằm, lớp Tư ở miễu Bông Gòn (?), lớp Ba ờ ngôi trường hai lớp bằng tranh dựng trên nền một cái miễu ở cạnh Cầu Vôi. Lớp Tư, Ba là trường Xã. Thầy Đặng Văn Đại dạy tôi lớp Ba mới mất cách đây vài năm. Năm lớp Nhì, Nhất tôi học trường quận lỵ với thầy Liễng ( lớp Nhì) và thầy hiệu trưởng Nguyễn Đồng (lớp Nhất). Hai thầy nầy dạy từ thời Pháp, các chị tôi trước là học trò của họ. Thầy Nguyễn Đồng là người có công xây dựng trường Trung học Quang Trung sau nầy.

      Bây giờ sao có nhiều người thường chỉ trích nền giáo dục một cách tùy tiện kiểu nói cho sướng miệng. Đương nhiên bao giờ cũng có những yếu kém nhưng so với thời mình được như ngày nay với tôi là ngoài sự mong đợi của những người thuộc thế hệ anh em mình.

      Mong có dịp gặp nhau.

  2. nói:

    Ui giời , Cảm ơn thánh A…LA ! Nhờ ngài năm xưa nhập dzô ông thầy dạy chúng con, thầy LA thầy đét đít chúng con bằng cây roi mót, bằng vọt rù rì mà con ” VỌT ” hơi quá hớp so với bình thường, thay vì mỗi năm mỗi lớp thành ba năm một lớp… í lộn, một năm ba lớp, dzụ này tiếng Tây kiu là đúp lê mân… lẹo lưỡi, khó đọc quá ! Hi hì..
    Có câu : ” Nhỏ không học lớn làm đại quý ” Nhưng nhỏ hầu xưa – già bây chừ đây vì được học tới một năm ba lớp, vị chi 12 lớp chỉ học có 4 năm. Tất nhiên tốt nghiệp RA TRƯỜNG mới vừa mừ (10) tuổi.. Quả là vô địch ! Hì hì..
    Vì thế cho nên ngày nay Lão là Thần Đồng môn ” ăn giỗ nói dóc ” nhất trang nhà nhì trang nẫu cũng là phải đạo thui ! Hê Hê..
    Sau rốt, Dù ít hay nhiều, dù phải hay không phải Nô tui cũng xin thay mặt mọi người cám ơn Lão Nhân Sĩ ( tg truyện trên ) đã cho đọc một tác phẩm rất kịp thời kịp lúc nhân ngày NGVN 20-11 năm nay.

    • Hoàng Văn Luận nói:

      Ông NÔ nói giống ý của cái Nị rứa…Có khi bị kiện là ăn cắp ý tưởng…cũng nên..ha ha…ha

    • Nam Thi nói:

      Ông tính lộn rồi Nô ơi. Tám tuổi tôi mới đi học, chỉ nhảy lớp một lần, sau đó bình thường mỗi năm một lớp. Năm 1959 đậu tiểu học (12 tuổi), 18 tuổi đậu tú tài 2 coi như chuẩn. Thời của tôi học sinh cùng lớp so le tuổi là chuyện bình thường, có anh chị cùng lớp hơn tôi 4, 5 tuổi.

      Ông trẻ hơn, lại là dân thành phố đâu có rành chuyện nông thôn thời sau 1954. Lần đầu tiên tôi xuống Qui Nhơn thi vào Cường Để, cũng là lần đầu tiên tôi được ăn bành mì xa xíu ông anh rể mua cho ở khu 6 (lúc đó từ phi trường trở vào toàn là cát trắng, rải rác mấy cái nhà tranh). Hương vị bánh mì xa xíu tôi nhớ đến bây giờ.

      Còn ở Miền Bắc thời bác Luận tui không biết. Đó là một thế giới khác mà một thời tôi tin là thiên đường ít ra là của trẻ em.

  3. Hoàng Văn Luận nói:

    Thầy Trần Đắc chắc không đọc BBXN nên hổng có biết được truyện ni, Tui đọc, nên tui thay mặt thầy cảm ơn trò NAM THI đã nhắc lại truyện xưa của thầy trò trong một truyện ký rất hay.
    Tuy nhiên cái chuyện nhảy cóc ba lớp một năm …thì có vẻ ANH HÙNG XA LỘ …quá. Không biết thầy Trần Đắc có nhớ không???( Đây là ý kiện của cái NỊ trao đổi qua điện thoại, nếu có gì xin anh Tám bỏ qua…hihihi)
    Những truyện như ri đọc trong những ngày này, thường mang đến cho chúng ta những phút nao lòng. Tôi đồng ý với nhận xét của anh Dương Phương Toại.
    Nhớ lại thưở ấu thơ lúc cắp sách đến trường…ta như thấy một quầng sáng lung linh trong trí tưởng.
    Cảm ơn món quà của anh Tám đã kịp dâng lên trong ngày lễ 20/11…ngày chúng ta tỏ lòng biết ơn với tất cả các thế hệ các thầy cô giáo VN.

    • Nam Thi nói:

      Chuyện tôi và vài bạn nữa được đôn năm ba lớp là thật, ai dám nói dóc mấy cha ơi. Thầy còn đó, bạn còn đó ai dám nói dóc ( một bà còn sống ở Tân Bình, một ông mới chết đâu năm năm). Thời ông Diệm mới tiếp thu (1955), nền giáo dục thô sơ, dàn ra cho có đủ trường, đủ lớp. Leo lưng cọp rồi phải cỡi, hơn nữa về nhà mấy ông anh bà chọ luyện dữ lắm, gà gáy là dựng đầu dậy học bài ngủ gà ngủ gật. Trường cách nhà vài cây số, bới cơm trong mo cau đem theo ăn trưa. Sách không có, chỉ có vở, gói trong tấm giấy dầu, trời mưa mặc áo tơi chằm bằng lá cọ…Đương nhiên, trình độ đâu bằng bây giờ. Năm lớp nhì (lớp 4) qua trường quận lỵ Bình Khê tôi còn đi chân đất. Trong làng chỉ có bốn năm đứa theo hết bậc tiểu học…Đến khi vào đại hoc chỉ còn hai đứa. Bây giờ làng tôi ( dân số tăng gấp 3) có mấy chục kỹ sư, bác sĩ, cử nhân, đa số tốt nghiệp cấp 3. Lễ tết nhiều người về làng bằng ô tô láng cóong. Chưa kể thế hệ sau nhiều em đi du học.

      Ít ai còn nhớ chuyện học hơn 60 năm trước nên kể ra giống chuyện cổ tích.

  4. NỊ nói:

    – Có đọc truyện này NỊ mới biết thuở nhỏ anh Nam Thi ham chơi hơn ham học , bi giờ thì có tuổi rùi lại không bỏ được tật ” ham ” nhưng mà là ham …” yêu ” hơn ham …nhậu . NỊ rủ đến lẩu dê 79 quài mà có hưởng ứng đâu ! Hihi…
    – Được làm đệ tử của thầy giáo Trần Đắc , thầy có biệt tài như thám tử ” sơ -lốc -hom ” mà sao anh Nam Thi không được truyền chút tài nghệ này ta ?Hehe…
    _ Dzụ án ” ngòi viết lá tre ” theo NỊ là tên học trò thủ phạm ấy sợ tiêm lá tre non mọc dài ra như thầy giáo “hù “thì nó phải ” ăn ” bớt đi mới …dzui ! Hihi…
    Lâu lâu đọc được một câu chuyện anh Nam Thi viết thật hay , tình cảm ,vui nữa. nị thích quá …chời ….

    • Nam Thi nói:

      Cái cột “ham” bỏ không được Nị ơi. Mà nghĩ lại “iu” mà ai không ham chỉ, đâu chỉ mình cha Tám Xóm Chùa.
      Còn nghề thám tử, tui xin bái. Mới bị giựt điện thoại mà Sơ với lốc gì hả?
      Cảm ơn cô Nị đã “thít” cái tự truyện nầy. Mừng quá, lâu lâu có bài ăn khách. Hiiiiii

  5. THÀNH TRUNG nói:

    Một mẫu thầy giáo của ngày xưa , tận tâm và tình cảm với học trò . Nói nhưvậy không phải tôi so sánh với thầy giáo thời nay nhưng bây giờ cơm áo gạo tiền đã làm giảm đi phần nào nhiệt huyết của người gõ đầu trẻ .
    Ngày xưa thầy giáo và học trò gần gũi nhưng học trò sợ thầy một phép .
    Câu chuyện có nhiều chi tiết hay thể hiện cách giải quyết vấn đề trước nhất quỉ nhì ma thứ ba học trò của thầy thật tuyệt và thầy quả là con người lắm tài trong cuộc sống .
    Lối viết mạch lạc , khá hài hước làm tui cũng …cười một mình .

    • Nam Thi nói:

      Chuyện cơm áo gạo tiền thời nào cũng có, cho nên không nên đổ thừa lương giáo viên thấp. Thầy hồi đó cũng nghèo, vừa dạy học vừa làm ruộng. Ngày mùa trường nghỉ mấy ngày để thầy trò ra đồng thu hoạch. Có khi thầy giao lớp cho anh trưởng lớp để đi thả bò. Nhà giáo thời nào cũng thu nhập thấp hơn anh lái heo nhưng bù lại thầy được trọng vọng hơn.

  6. LyLy nói:

    Biết thủ phạm là ai nhưng người thầy kia vẫn giữ thể diện cho học trò mình sau mấy chục năm gần đến cuối đời mới bộc lộ. Một nghĩa cử thật cao đẹp ! Câu chuyện rất hay, gây xúc động trong lòng người đọc. Đó cũng là một kỷ niệm vui buồn trong cuộc đời nhà giáo. Cám ơn tác giả.

    • Nam Thi nói:

      Hôm nọ tôi hỏi thầy sao hồi ấy thấy cho tui học bỏ lớp, thầy bảo ” Tui biết chú học nổi mới đôn”. Tui lại hỏi thầy có phải hồi đó thấy dạy theo giáo trình của nhà nước không, thầy bảo “làm gì có giáo trình, tui cứ dựa vào những gì đã học rồi dạy lại, cả những thứ học thời Pháp và Việt Minh). Xin nói thêm chữ viết của thấy theo lối Pháp nên rất đẹp, nét chữ của tôi đến bây giờ còn thằng hàng là nhờ khổ công tập viết với cây bút lá tre. Tui thấy chữ cải cách mới nhất hao hao kiểu chữ tôi học thời ấy…Cải rồi cách cho lắm…

  7. NGỘ nói:

    Vụ án ngòi viết lá tre thiệt li kì hấp dẫn, dzách lầu là pha khảo cung tập thể. Mẹo vặt hù dọa ” con nít ” thời ấy của ông thầy coi vậy mà rất thành công. Cảm ơn ôn NT rất nhiều về câu chuyện đầy ý nghĩa cho ngày 20-11 năm nay. Ngọ mong được đọc nhìu nhìu những tác phẩm bổ ích đại loại như vậy. Trân Trọng !

    • Nam Thi nói:

      Ngộ dạo nầy nói và viết tiếng Việt rành quá chừng. Xin ca một câu tiếng Hán của Ngộ nheL “Nhân bất học bất tri lý. Ấu bất học lão hà vi”.( người không học không biết lý lẽ cuộc sống. Nhỏ không học lớn biết làm gì).
      Xin cố gắng viết nhưng có dở có hay, mong thông cảm.

  8. HOÀNG HOA nói:

    Những kỷ niệm khó quên .
    Tác giả học một năm ba lớp , thiệt là thông minh xuất chúng . Hihi…
    Truyện ngắn viết chân thật , sinh động và rất dí dỏm .
    Ngày xưa đề cao câu ” tiên học lễ hậu học văn ” anh Nam Thi nhỉ ?

    • Nam Thi nói:

      Chẳng phải “thông minh xuất chúng” gì đâu bạn, do mở lớp mà thiếu học trò nên bị “đôn” lên đó thôi. Cô em nhà chú cùng tuổi cũng được đôn như tôi. \
      Nông thôn cũng như xã hội VN thời ấy còn thuần khiết lắm, ảnh hưởng Nho giáo, thuần phong mỹ tục còn đậm lắm. Con nít gây gổ nhau ngoài đường thấy người lớn là im ngay.
      Xã hội-gia đình-học đường chia sẻ giáo dục trẻ em.

  9. THANH MAI nói:

    Hay quá! Mẹo tra án của người Thầy cũ thiệt hay. Ngày xưa chỉ cái ngòi bút lá tre mà kế sách đã tuyệt vời. Ngày nay mất chiếc IPHONE trong lớp, không biết Cô Thầy có cách chi để tra hỏi hay không ? Ngày NGVN năm nay đọc được mẫu chuyện thiệt hay. Cám ơn tác giả và bbt.

  10. Nhật Nam nói:

    Ông Thầy ni rõ biệt tài. Nếu được chọn, tôi sẽ đề cử thầy giữ cái chức Trưởng Ban Thanh Tra Trung Ương ngay. Để dân đen ta đỡ phải nhọc nhằn khốn khổ. Cám ơn bài viết tưởng tiếc công lao thầy-cô, nhân kỉ niệm ngày NGVN 20-11 thật hay. Cám ơn tác giả.

    • Nam Thi nói:

      Thầy tôi vẫn còn khỏe. Cách đây mấy tháng tôi về quê, thầy đến thăm tôi, mang theo tập san Tây Sơn có đăng truyện “Tảng đá mồ côi” của tôi để hỏi “nè, làng mình làm gì có tảng đá nào mà chú mầy viết trong nầy?”. Tui mới giải thích đó là hư cấu. Té ra thầy đã “cãi” với ai đó, đợi tôi về để hỏi cho rõ. Thật thương.

  11. Ngọc Phương nói:

    Nghe tác giả kể chuyện thời.học trò.còn nhỏ cảm động quá. Qua cách viết thấy được sự tôn sư trọng đạo trong tác giả không giảm sút theo thời gian và lòng mình lại ngậm ngùi khi nghĩ đến học trò thời @. Đánh nhau như côn đồ trong lớp học , ra đường xúc phạm cả thầy cô. Thời đại văn minh hơn xưa nhưng đạo đức thì xuống cấp trầm trọng.
    Bài viết rất ý nghiã trong ngày 20.11.

    • Nam Thi nói:

      Đó là thuở trường làng. Năm tôi học lớp Đệ nhất ( lớp 12) Trường Hưng Đạo Sài Gòn không còn hiền như trước, đánh nhau mấy trận với tụi côn đồ.

  12. NGUYỄN HÙNG nói:

    Một hồi ức viết lôi cuốn cho ngưồi đọc trổ về thời thơ ấu đầy kỉ niệm thân thương. Tác giả đã lớn tuổi mà trí nhớ còn tốt quá , kể chuyện như mới vưà xảy ra không lâu thật đáng phục.
    Nhân ngày nhà giáo được đọc những mẫ chuyện cuả học trò miền quê ngày xưa rất thú vị. Cám ơn tác giả.

    • Nam Thi nói:

      Cảm ơn bạn khen. Người lớn tuổi thường giỏi nhớ chuyện “hồi ấy”, còn chuyện mới bộ nhớ thường từ chối.

  13. Thủ phạm ngòi bút lá tre?Là đứa CẮN RĂNG ngăn lá đừng dài!Đừng mọc sẽ ra họa tai!Vết cắn đầu mối bịt lại ngăn trở…”Thấy NĂM MÈO đủ chiêu trò Nhận biết đã rõ giả vờ NHƯ KHÔNG!-Một cách xử sự độ lượng Một sự tinh tế vì thương học trò”…Phạt roi là để Thương Cho…Nên Người từ biết sợ lo lỗi lầm! Về sau tránh sự sai phạm ?Roi Thương nào ghét tay cầm lòng đau!?

    • Nam Thi nói:

      “THương cho roi, cho vọt”. Đó là phương châm giáo dục thời đó. Cha mẹ thường nhờ thầy “đánh khá vào”. Bây giờ thấy đánh học trò là bị kiện. Tui học lớp 10 còn bị đét đấy vì bẻ trộm hoa đào nhà gần trường tặng bạn gái (một tình tiết trong truyện ngắn “Hoa đào năm ấy”)

  14. TUTHUC nói:

    Tôi muốn kể anh ” Thuận Nghĩa ” nghe : Lúc tôi học lớp 1-2 trường làng , tôi nhỏ nhất lớp nhưng thầy giáo thương phận tôi bế rồi đanh các bạn không thuộc bài , không dám nói thêm ! Chao anh Nam Thi=>. Thuận Nghĩa . cham het ,……

    • Nam Thi nói:

      Anh Tư trẻ hơn tôi sáu tuổi, thời của anh chắc “văn minh” hơn thời của tôi rồi. Vậy là anh ngon hơn tui. Tui bị đánh tét đít, cả ở trường lẫn ở nhà. Tậu.

  15. Truyện với những kỷ niêm đầu đời của tuổi học trò trường làng thật thi vị, khó quên! Bỗng dưng mình thấy thức dậy một thời xa ấy của đời học trò vô tư như ánh sáng! Vẻ đẹp một thời ấy không thể nào chuộc lại được nữa rồi các bạn ơi!

    • Nam Thi nói:

      Anh nhắc tôi mới nhớ: đúng là dễ thương, thi vị. Sao mà hồi đó bọn nhỏ kính trọng thầy đến thế. Ra đường mà gặp thầy cô, dầu không phải thầy dạy mình, vẫn nép bên đường, lấy nón, cúi đầu chào. “Một mộng tết cha, mồng ba tết thầy”. Ngày mồng ba tết ra đường toàn gặp học trò đi tết thầy với gói trà, gói mứt (hồi đó chưa có phong bì). Tôi cũng nhiều lần “tết” thầy, trong đó có người là bạn của cha tôi, khi về bà cô gửi tôi mang về ít quà để cúng cha tôi (cha tôi mất từ khi tôi mới sinh). Tôn sư trọng đạo, lễ nghĩa như thế nay còn không?

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s