ĐỢI


Ngô Văn Cư

Bà Mịch chống chiếc gậy nói vọng qua hàng rào:

– Con Nẫm đấy hả? Đã nấu cơm chưa? Cho tao xin một chén, đói quá… từ hôm qua đến giờ có miếng cơm nào trong bụng đâu!

– Con thấy cô vừa ăn xong mà!

– Mày lại cùng với vợ chồng thằng Trần bỏ đói tao nữa à?

Nói xong, bà Mịch lại lọ mọ đến cái ghế nhựa đặt trước nhà ngồi xuống. Chiếc gậy kẹp sát vào người, miệng lầm bầm nói câu gì đấy nghe không rõ. Nẫm nhìn bà Mịch mà áy náy. Bà vẫn chưa qua tuổi xưa nay hiếm nhưng sức khỏe đã yếu lại thêm lú lẫn. Chuyện vừa xãy ra đã quên ngay nhưng có những chuyện cũ rích bà vẫn còn nhớ rõ mồn một. Như sáng nay Nẫm thấy thằng Hùng, đứa cháu đích tôn, cùng ăn sáng với bà trước khi dìu bà ra ngồi ngoài hè rồi khóa cửa nhà, cửa cổng… Phải làm thế vì vợ chồng Trần đi làm từ sáng sớm, hai đứa con cũng đi học. Khi không có ai ở nhà thì bà Mịch phải ngồi ngoài hè. Ở trong nhà nguy hiểm lắm. Điện máy. Bếp ga. Cầu thang. Nhỡ bà táy máy thì hậu quả khó lường. Ngồi ngoài hè, tuy rằng có bất nhẫn nhưng an toàn.

Riết thành quen. Buổi sáng. Buổi chiều. Bà Mịch đội chiếc nón ngồi nhìn ra đường như chờ đợi một điều gì. Đời bà là một chuỗi ngày chờ đợi như thế. Chỉ khác ngày xưa là khi đêm đến…

Ngày xưa, nhưng vẫn chưa xưa lắm, khi đất nước vỡ òa niềm vui chiến thắng, mọi người hy vọng được hưởng những ngày no ấm, hạnh phúc thì Mịch cũng hy vọng người lính cộng hòa ấy sẽ cùng Mịch xây dựng một tương lai mơ ước. Nhưng lời hứa đã đi phương trời nào biền biệt còn lại bên nách Mịch là thằng Trần vừa biết đi lẫm chẫm. Cứ nghe tin người lính ấy cải tạo nơi nào thì Mịch ẳm con đến tìm. Tin tức ngày dần thưa và bặt tin… rồi xem như người ấy đã chết. Tiếp đến là những ngày gian khổ tìm cái ăn, cái mặc, cái nơi trú ngụ; để rồi ma đưa lối quỉ đưa đường Mịch cặp đôi với Huyền, người con gái cũng đang vất vưỡng, buông thả. Hai người mở một quán nước nhỏ bên đường quốc lộ, heo hút nơi sườn đèo, xa khu dân cư. Đêm đêm ánh đèn dầu leo lét gây chú ý cho khách đi đường. Khách thường là cánh xe tải đường dài và những người lỡ đường. Nói là hàng quán nhưng khách không chỉ ghé đến uống nước mà còn vì cả hai cô chủ quán. Khách thường ghé vào ban đêm. Uống ly nước. Cười cợt. Chả chớt. Dẫn vào căn phòng tồi tàn ở phía sau. Trả tiền. Ra đi. Không biết bao người đã đến và đi nhưng Mịch không nhớ lấy nổi một người. Cũng vì có thằng Trần nên khách của Mịch không bằng Huyền. Dần dần ngôi vị đã chuyển đổi. Không còn là đồng chủ nhân của quán. Mịch trở thành người đón khách. Đồng hành với Mịch là chiếc nón che sương. ánh đèn dầu vàng vọt với cái đèn pin trong tay dẫn khách. Khách quen gọi khách lạ, rỉ tai nhau… nên cơ sở ngày càng mở rộng tính bằng số lượng những cô gái mới đến. Thằng Trần cũng đã đến tuổi ăn học, không thể ở đây mãi. Một tài xế muốn có nơi tạm trú trong những chuyến đường dài. Túp lều nhỏ được dựng lên không xa nơi cũ bao nhiêu. Mịch và đứa con lại bắt đầu bằng những đêm đợi khách. Hàng tháng, đôi ba lần Mịch có những đêm thật sự chồng vợ với anh tài xế kia. Nếu hạnh phúc có thật thì khoảng thời gian này Mịch thật sự hạnh phúc. Thằng Trần được đi học. Dây phơi đã có những bộ quần áo đàn ông bên cạnh áo quần phụ nữ và trẻ em. Nhiều khi Mịch cứ để mãi trên dây phơi để ngầm khoe cuộc sống có nồi có vung của mình. Những ngày tưởng như hạnh phúc ấy dài không quá gang tay, khi vợ người tài xế kia tìm đến…

– Cô ba! Có cái bánh đây…

Tiếng của Nẫm từ bên khi hàng rào làm cắt đứt dòng hồi tưởng của bà Mịch. Biết là không vì đói mà hỏi cơm nhưng khi đã hỏi thì Nẫm cũng phải tìm một thứ gì đấy cho bà Mịch. Thường thì bà chỉ ăn một chút ít rồi gói cẩn thận cất trên bậu cửa, gọi là để dành cho thằng Trần phải đi làm cực nhọc. Ì ạch mãi Trần cũng đã học xong cấp hai, trình độ được gọi là xóa xong mù chữ. Không thể theo học cao hơn, Trần đã theo lớp trẻ cùng lứa làm đủ thứ việc để kiếm sống. May là nó cũng biết nghe lời nên không lêu lổng, hư đốn. Ổn định trong công việc phụ hồ cho các công trình, nó ít khi về nhà. Càng lớn, Trần càng vắng nhà nhiều hơn. Bà Mịch lại thui thủi một mình. Bữa cơm nào bà cũng để phần cho nó. Bây giờ bà cũng làm như thế. Bà làm theo thói quen, một thói quen đã lặp đi lặp lại nhiều năm, không thể nào bỏ được. Nỗi cô độc ngồi một mình đợi người quen hoặc không quen để có tiền sinh sống qua ngày, rồi đợi con, đợi một điều mơ hồ nào đó đến để thay đổi cuộc đời  mình. Kể khi có Liễu đến ở cùng. Bà cũng là người ngồi đợi khách cho cả hai người. Cái nghề mạt hạng này cứ bám mãi vào đời bà. Bây giờ thêm Liễu. Một cô gái đáng thương khi nghe cô nói về hoàn cảnh của mình, mặc dầu hoàn cảnh của các cô gái như Liễu đều na ná giống nhau.

Liễu là đứa con đầu trong một gia đình có ba chị em. Cha là một hạ sĩ quan lính cộng hòa thuộc sư đoàn 23 đóng quân ở Plei-ku. Liễu đang theo học bậc trung học đệ nhất cấp, bây giờ là cấp THCS, chuẩn bị cho kỳ thi đệ nhị cá nguyệt, tức là kiểm tra học kỳ hai, thì chiến sự nổ ra. Những tiếng súng, tiếng pháo ngày càng dồn dập và những tin tức về quân giải phóng đánh vào các căn cứ ngày càng một nhiều. Khi Ban Mê Thuột thất thủ, bố Liễu vội hối thúc vợ con tìm đường chạy khỏi Tây Nguyên. Một cuộc hỗn loạn chưa từng thấy. Gia đình Liễu được bố trí trên một  chiếc xe GMC cùng với nhiều gia đình khác. Chỉ còn một con đường số 7 để chạy về Phú Yên… từ đó sẽ tìm đường đi tiếp. Trong ký ức của Liễu, những ngày giữa tháng ba năm một chín bảy lăm là những ngày thật kinh hoàng. Hàng đoàn xe nối đuôi nhau chở những con người với khuôn mặt hốc hác, hoảng loạn, thất thần. Bố Liễu đã mang theo cả gia đình khi rút quân và ông chăm chăm cây súng khi có bất cứ một người lính cùng sắc áo nào dáo dác tìm người nhà mỗi khi đoàn xe dừng lại. Ông nói với người bên cạnh rằng bây giờ không thể nghe lệnh của cấp chỉ huy để xông ra giao chiến với Việt cộng mà cốt yếu là bảo vệ gia đình được bình yên về nơi an toàn. Khi xe không thể lăn bánh được nữa vì những cây cầu đã bị phá hủy, tình thế cực kỳ náo loạn, mọi người nắm tay nhau chen chúc trên con đường nhiều cỏ và bụi cây. Liễu bị lạc gia đình khi chính máy bay của quân đội cộng hòa bắn nhầm vào đoàn người di tản. Mọi người thất lạc tứ tán. Liễu nhìn màu áo lính trước mặt mà chạy theo khi lội qua con suối nhỏ. Phía sau và phía trước đều có tiếng súng, tiếng bom.  Liễu bị trượt khi bước lên hòn đá đầy rêu. Một người lính nắm tay Liễu, chạy. Khi đến trại tị nạn Phú Yên, chỉ còn một mình. Liễu đến từng lều che tạm để tìm cha mẹ dẫu người lính nói với Liễu rằng nhờ Liễu mà ông ta mới về đến đây an toàn. Ông ta muốn Liễu cùng ông tiếp tục hành trình vào Sài Gòn… Đợi yên ổn sẽ tìm gia đình sau. Không chấp nhận, ông cũng vội vàng theo đoàn xe từ hướng Bắc Nam mà di tản. Liễu bơ vơ giữa rừng người hỗn độn, hoảng hốt, bơ phờ… Rồi những ngày khủng khiếp cũng qua đi khi quân giải phóng đã chiếm được Sài Gòn. Liễu lại càng bơ vơ, lang thang khắp nơi để tìm gia đình. May là mẹ Liễu lo xa có may một túi nhỏ với một ít vàng dấu vào lai áo phòng khi… Vàng hết. Công việc khó khăn. Đói. Tuổi dậy thì với vóc dáng phổng phao đã cứu sống Liễu qua ngày. Lang thang mãi Liễu tá túc cùng với Mịch. Trong căn nhà nhỏ, hai người đàn bà, hai hoàn cảnh nhưng một lối sống và một thanh niên vừa lớn. Họ nương tựa, sưởi ấm, chia sẻ hạnh phúc cho nhau…

Lại có tiếng của Nẫm:

– Sao cô không ăn bánh mà lại gói cất?

– Ừ, tao còn để phần cho thằng Trần.

– Cô cứ ăn hết đi. Con đã có phần cho anh Trần rồi.

– Chốc nữa tao ăn. Bây giờ no rồi!

Đói và no; nhớ và quên lẫn lộn vào nhau. Nhưng có một điều bà Mịch không bao giờ lẫn lộn. Nó trong suốt, nhất quán từ đầu đến cuối. Đó là tình yêu của bà đối với Trần. Bà sẵn sàng bỏ tất cả để giữ con vì đó là một phần đời của bà, là tình yêu với Hoàng, người lính cộng hòa đã bỏ bà trơ trọi giữa cuộc đời này. Bà chỉ còn Trần để mà tưởng nhớ, hy vọng, gởi gắm tình yêu thương. Bà tin tưởng một ngày nào đó Hoàng sẽ về. Bà sẽ dẫn Trần đến trước mặt Hoàng và nói đây là con của chúng ta. Nó đã được nuôi dạy tốt trong một môi trường đầy lọc lừa, dối trá. Thế mà đôi lúc nó làm bà thất vọng. Có một việc mà bà không thể nào quên được. Đó là một hôm bà bắt gặp Liễu và Trần không mảnh vải che thân quấn vào nhau. Chuyện trai gái lao vào nhau dù chỉ mới gặp lần đầu đối với bà không lạ. Nhưng đây là hai đứa sống chung một nhà. Có khi chúng đã nảy sinh tình cảm? Bà thấy mình thật sự bất lực khi hỏi Liễu vì sao làm chuyện đó. Bà nhận một câu trả lời không thể trần trụi được hơn nữa. Trần đã lớn và cũng muốn… nên chìu nhau, có mất gì đâu.

– Trần còn tương lai… Với lại cô cũng lớn tuổi hơn nó nhiều.

– Thì cứ chọn tương lai cho mình. Ai cấm cản. Tôi không có ý định sống hết đời với Trần. Cũng không có tình cảm yêu thương gì cả. Chỉ chìu nhau khi Trần muốn… và chị cũng có lúc ngủ với nhiều người nhỏ tuổi hơn đó sao?

Nghe mà choáng !

Còn với Trần, nó chỉ lầm lì, không giải thích. Bà Mịch biết rằng đấy không phải là lần đầu tiên của hai đứa. Khi gặp mặt nhau chúng cũng không biểu lộ tình cảm gì nhưng bà biết chắc là chúng vẫn còn tiếp tục làm chuyện trai gái. Bà bỗng mơ hồ sợ sệt, muốn tách chúng ra. Hai thân xác tràn đầy sức sống trong căn nhà nhỏ làm sao tránh khỏi bùng lên ngọn lửa đam mê. Bà không muốn Trần đến với Liễu. Không phải vì Liễu lớn tuổi hơn Trần, mà bà ghê tởm cái công việc của Liễu và bà buộc phải dấn vào. Bà luôn mâu thuẩn với chính mình. Cầm trên tay những đồng tiền kiếm được để sống và nuôi Trần khôn lớn, bà cảm thấy nhơ nhớp nhưng bà không còn cách nào khác. Cả Liễu cũng thế. Với Trần thì không thể bám vào đồng tiền này để sống. Bà Mịch muốn sống như những ngày xưa. Ngày mà bom đạn luôn rình rập, cái chết đến bất cứ lúc nào nhưng thật hạnh phúc. Ở nhà, nghe tiếng súng nổ xa xa, bà lo cho Hoàng; còn ở đơn vị Hoàng cũng lo viên đạn vu vơ nào đó không rơi đúng đích. Bà với Hoàng sống cùng nhau là vì tình yêu. Không yêu nhau sao có lần Hoàng đã thủ thỉ với bà rằng sẽ đào ngũ và tìm một nơi khác sinh sống. Nơi nào dung nạp kẻ đào ngũ? Hay là tìm đường sang phía bên kia? Không biết người bên kia có chấp nhận? Chần chừ mãi, thì họ tới thật. Có họ nhưng mất Hoàng. Cuộc sống ngày càng khó khăn khi Hoàng bặt tin. Mịch lưu lạc. Nếu Hoàng còn sống về tìm, làm sao biết mẹ con Mịch ở đây! Hay là trở về nơi cũ? Ừ, về nơi sống cũ thôi…

Nghĩ là làm. Bà Mịch để cái quán lại cho Liễu và quay về nơi sống cũ. Lại muôn vàn khó khăn. Từ việc làm đủ thủ tục giấy tờ đến xây dựng lại mối quan hệ đã cắt đứt nhiều năm để sinh sống là cả một vấn đề. Nhưng tất cả ổn thỏa. May là thằng Trần cũng biết nghe lời. Nó chỉ có vẻ buồn. Nẫm trở thành hàng xóm của bà Mịch. Thuở ban đầu, Nẫm cũng không ưa gì bà Mịch, một con người có nhiều vết hoen ố. Chồng là lính cộng hòa mất tích. Bản thân đã từng là gái bán hoa. Chắc là đã hết thời rồi nên mới về lại đây. Sau nhiều năm tháng là hàng xóm, Nẫm thấy bà Mịch sống rất thật tình, lặng lẽ mà gắn bó với xóm làng. Nhưng đâu dễ ngày một ngày hai hòa nhập, nhiều ông cha bà mẹ cấm con trai chơi với Trần vì sợ thuở nhỏ nó nhiễm thói hư tật xấu của cánh xe chạy đường dài. Còn con gái thì khỏi nói, một bước chân cũng không được đặt vào nhà bà Mịch. Cái quá khứ đen tối như là một văn bản lỗi không được chấp nhận. Rồi thằng Trần có vợ, sinh con. Bà Mịch lại vui cùng cháu. Lại có những ngày đợi cháu đi học về làm niềm vui. Đợi cháu, bà còn đợi một điều gì đó thật mơ hồ. Lâu dần, mọi người mới ngộ ra rằng bà vẫn còn đợi người ấy khi nghe tin ở đâu đó có người cải tạo về thì bà tìm đến hỏi thăm… Có những người rời bỏ đất nước để tìm thiên đường ở vùng đất mới, nhưng vẫn có tin tức những người muốn quay về… Bà Mịch lại hy vọng.

– Sao bà không ngồi vào phía trong hè? Ngồi ngoài này nắng lắm.

Tiếng thằng Hùng, đứa cháu nội đi học về, dắt chiếc xe vào cổng và hỏi làm bà Mịch lại bị ngắt quãng dòng suy tưởng.

– Bà ngồi ở ngoài này cho ấm người.

– Con mở cửa để bà vào trong nhà. Con về rồi, không ngồi ở ngoài nữa.

– Sao hôm nay con đi học về sớm thế?

– Sớm gì nữa nội? Đã tan trường rồi.

– Trưa rồi mà sao cha mẹ mày chưa về?

À, thì ra bà Mịch đang đợi những thành viên trong gia đình trở về sum họp. Chưa bao giờ bà thấy trong nhà đủ người. Bởi người ấy vẫn chưa về đoàn tụ. Bà biết chắc người lính thất bại trong cơn hoảng loạn đã bỏ rơi mẹ con bà vẫn còn sống ở một nơi nào đó. Khi đất nước đã đổi mới, có người từ nước ngoài về nói có gặp Hoàng trên một chuyến tàu di tản trong những ngày quân giải phóng tiến vào Sài Gòn. Những lời hứa sẽ tìm và báo tin cho hai người gặp nhau làm bà Mịch càng thêm hy vọng. Hy vọng thêm nóng lên khi có người trao cho bà lá thư của Hoàng đang sống ở nửa bên kia trái đất. Và để khẳng định thêm những lá thư ấy là của Hoàng, ba của Trần, một khoảng tiền lớn gởi về. Căn nhà bề thế đầu tiên ở nơi này được xây lên từ những đồng tiền ấy. Cuộc sống thay đổi. Có tiền. Trần đã tập tành nhận những công trình xây dựng. Vợ Trần có một quầy hàng tạp hóa ở chợ. Còn bà Mịch, tiền bạc thì bà rất cần nhưng bà cần Hoàng trở về hơn. Biết bao người đã về đây. Hoàng để bà đợi đến bao giờ?

Hoàng về thật.

Thông tin chính thức là một lá thư bà Mịch nhận có nói đến việc Hoàng sẽ về sau bao nhiêu năm rời bỏ quê hương. Tiền cũng được gởi thêm để sửa sang lại nhà cửa. Bà Mịch nghe tin bằng khuôn mặt dửng dưng khiến ai cũng ngạc nhiên. Nhưng nhìn cuộc sống hàng ngày của bà Mịch thì biết rằng trong lòng bà đang dậy sóng. Bà không chịu ngồi yên; thay đổi chỗ những vật dụng trong nhà; có khi đến tối mịt rồi mà bà vẫn không chịu vào nhà… Rõ ràng là bà bối rối khi biết tin Hoàng sẽ về.

– Vào nhà đi nội.

– Tao còn đợi…

– Không! Ba má con chiều mới về. Hôm nay chỉ có nội và con ăn cơm.

– Tao vừa ăn xong, mày cứ việc ăn trước đi. Tao còn đợi…

– Thôi mà…đợi làm gì.

Hùng không hiểu được bà Mịch đợi điều gì.

Nhưng rồi ngày trọng đại của cuộc đời bà cũng đến.

Đó là một ngày đẹp trời. Hoàng về !

Vợ chồng Trần và cả thằng Hùng ra thành phố từ sớm để đón Hoàng. Bà Mịch muốn Hoàng thấy con và cháu đã trưởng thành và khỏe mạnh khi về đến quê nhà. Hai cánh cửa nhà cũng mở rộng chờ, khác với mọi hôm đóng im ỉm. Bà Mịch ở nhà một mình; không muốn Hoàng thấy bộ dạng già nua của bà nơi công cộng. Bà thích thú đợi cảm giác gặp lại người cũ nơi ngôi nhà bà xây cất nhưng có sự đóng góp của mọi người. Bà hết đi ra cổng, rồi lại vào nhà; sắp xếp lại những đồ vật mà bà cho rằng chưa ngăn nắp. Bật bếp ga nấu nước nóng để pha trà, rồi nguội, rồi nấu… Bật ti vi tìm chương trình để xem, rồi tắt, rồi mở… Thật ra, bà có xem được gì đâu. Mở ti vi là để nhà có hình ảnh động và tiếng nói cho vui; đỡ buồn tẻ; đỡ nóng ruột. Có con cháu ở nhà, đời nào chúng cho bà sờ vào những thứ máy móc, điện, ga. Mọi thứ chúng làm tất, sợ bà làm hỏng đồ dùng, sợ nguy hiểm. Còn bà thì không thích cái bề bộn, thiếu ngăn nắp của chúng. Ví như cái dây điện lòng thòng ở bên hông chiếc ti vi kia…

Trưa. Chiếc taxi chở mọi người đã về.

Nhà bà Mịch nườm nượp người vào ra. Mỗi người đến đều mang một tâm trạng khác nhau. Đó là tâm lí đám đông khi có sự kiện hiếu hỉ xãy ra trong làng xóm. Họ ngạc nhiên, tò mò, tìm hiểu bằng một thái độ cảm thông, vừa vui vừa buồn.

– Nỗi buồn trong ngày vui, là sao?

– Là bà Mịch đụng vào dây điện trần…

– May là không bị thêm người nào nữa…

Một nhận xét thật đúng nhưng hơi bất nhẫn:

– Ông Hoàng đã về kịp trong đám tang của bà Mịch. Nhưng sau bao năm chờ đợi, bà Mịch không kịp thấy mặt người xưa.

Mọi người đến lo chuyện hậu sự bà Mịch, quên đi sự hiện diện của ông Hoàng, một người mà suốt bao năm ai cũng muốn trông thấy mặt. Ông thành người thừa. Chiếc vali to đùng cùng một số vật dụng của Hoàng vẫn để ngoài hiên nhà. Còn ông thì ngồi vào chiếc ghế mà bà Mịch đã từng ngồi, mắt vô hồn thẩn thờ nhìn vào khoảng trống mông lung.

NVC

Advertisements
Bài này đã được đăng trong Văn và được gắn thẻ . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

34 Responses to ĐỢI

  1. HẰNG VY nói:

    Ai cũng từng có đôi lần chờ đợi trong cuộc đời nhưng sự chờ đợi trong câu chuyện này là cả một số phận được tác giả chuyển tải qua từng cột mốc thời gian tràn ngập chua xót .
    Nếu biết rằng sự sống của mình sẽ chấm dứt khi người yêu năm cũ trở về thì chắc chắn bà Mịch không bao giờ mơ nghĩ đến hai chữ ” đợi chờ ” ! Hihi …Hằng Vy nói có trật không anh Ngô Văn Cư ?

    • Ngô Văn Cư nói:

      @Hằng Vy
      Dẫu thế nào bà Mịch vẫn đợi chờ chứ HV! Đợi một tình yêu… mà tình yêu mơ hồ lắm nên phải đợi hết cả cuộc đời vẫn… vô tăm tích!
      Cảm ơn HV đã đọc.

  2. NGUYỄN HOÀI nói:

    Truyện có những chi tiết gần gũi đời thường , dễ đồng cảm với nhân vật . Cuộc đời của bà Mịch đã nhiều đau khổ bây giờ tác giả tặng thêm cho một đoạn kết chấm dứt hẳn nỗi khổ đeo đẳng suốt thời gian dài của bà rất bất ngờ , hay nhưng tàn nhẫn quá .

    • Ngô Văn Cư nói:

      @Nguyễn Hoài
      Muốn bà Mịch bớt đau khổ, không còn cách nào khác NH ơi! Tôi thì có muốn thế đâu nhưng hổng làm khác được.
      Rất vui vì truyện được đọc.

  3. NỊ nói:

    Một câu chuyện tình trong thời chiến luôn có chia ly và đợi chờ .Dẫu có những giây phút tồn tại giữa lằn ranh sinh tử mong manh con người vẫn khát khao , hy vọng với sự đợi chờ của mình .
    Có bài thơ nổi tiếng ” Đợi anh về “của thi sĩ Konstantin Simonov ( người Nga )viết trong giai đoạn chiến tranh thế giới thứ hai đã được dịch ra nhiều thứ tiếng , trong đó có tiếng Việt với những câu thật xúc động :
    “Em ơi đợi anh về
    Đợi anh hoài em nhé
    Mưa có rơi dầm dề
    Ngày có buồn lê thê
    Em ơi em cứ đợi….
    ….
    Anh của em lại về.
    Vì sao anh chẳng chết?
    Nào bao giờ ai biết
    Có gì đâu em ơi
    Chỉ vì không ai người.
    Biết như em chờ đợi. “( Tố Hữu )
    Sự đợi chờ như NỊ hay ” tám ” , nó có thể là hạnh phúc vì có người hẹn hò với mình và nó là đau khổ khi mình cứ phải chờ có người để hẹn ! ( huhu )
    ” Đợi ” của anh Ngô văn Cư , hết chiến tranh rồi vẫn mỗi người một nơi . Hoàn cảnh sau chiến tranh dẫu nhọc nhằn , trong sâu thẳm tâm hồn họ cũng cứ …đợi . Tình yêu là thế , có con rồi nỗi mong chờ càng cháy bỏng !( Riêng Tám Xóm Chùa thì NỊ hông dám nói câu này dzí ổng ..Hihi…)
    Câu chuyện viết về số phận của hai người phụ nữ trong truyện thật bi đát . Một cái nghề không được xã hội gọi là …nghề đã được anh CƯ diễn tả rất ư là …rành !Hehe…
    Cách viết của anh Cư như phơi bày sự thật tốt xấu hiện rõ trước mắt người đọc nhưng vẫn cảm nhận được nội tâm dằn vặt của nhân vật .
    Một kết cục không ai mong , thật là buồn . Tác giả là ông trời mà , có quyền cho ai chết thì cứ …quyết !!!Hic
    Anh Cư nè ! Mà sao anh để bà Mịch đến tình trạng này mới viết truyện ĐỢI :
    “bà Mịch lại lọ mọ đến cái ghế nhựa đặt trước nhà ngồi xuống. Chiếc gậy kẹp sát vào người, miệng lầm bầm nói câu gì đấy nghe không rõ. Nẫm nhìn bà Mịch mà áy náy. Bà vẫn chưa qua tuổi xưa nay hiếm nhưng sức khỏe đã yếu lại thêm lú lẫn. ”
    viết sớm tí nữa đọc hấp dẫn hơn chứ !Nhân vật này mà còn sống thì hổng biết hai người gặp nhau rùi …sao nữa ta ???Hihi…

    • Ngô Văn Cư nói:

      @Nị
      Úi chà… giúng bài bình loạn zăn nghệ, zăn gừng quá. Mà cứ hỏi những câu hóc búa…
      -Nếu để hai ngừ gặp sớm tí nữa thì hấp dẫn là đúng rùi, vì khi ấy hai ngừ sẽ có những cu Tí làm rối tinh tình cảm của họ. Phải hông anh Tám Xóm Chùa?
      -Còn nếu nhân vật Mịch còn sống, bà sẽ nhìn ông Hoàng và hỏi: Ông là ai?
      -Anh mà hổng rành cái nghề không được gọi là… nghề, mới lạ. Có anh Tám làm chứng!
      Khà khà khà…

      • Tám Xóm Chùa nói:

        Tui hổng đồng ý “để” Hoàng về sớm. Kẹt lắm. Nếu Hoang về vào thời gian Mịch đang mần ăn ở chòi bên đường thì nguy to. Cứ tưởng tượng đi. Trong đêm tối tù mù, Mịch không nhìn rõ mặt, tưởng Hoàng là khách, buông lời rủ rê: “Anh Hai ơi, vào đây…vui vẻ đi anh…”. Khi nhận ra nhau, chắc Mịch chui xuống đất.

        Nếu “để” Mịch sống cũng kẹt. Thế nào rồi miệng thế gian cũng xầm xì, thế nào cũng lọt vào tai Hoàng những chuyện Mịch cần giấu, lúc ấy càng đổ chè đổ cháo…ăn không hết.

        Mịch chết là …tối ưu. Ôi cái nghề viết văn nó ác làm sao, muốn cho ai sống thì sống, muốn khai tử ai thì người đó phải chết. Ông NVC tu chín kiếp cũng vẫn là nhà dzăn thâu.

        Còn sự chờ đợi trong bài thơ của Simonov hoàn toàn khác Nị ơi, chi giống mỗi từ “đợi”.

        • NỊ nói:

          Hihi …thì cũng là tâm trạng ” đợi ” thui dù hoàn cảnh có khác nhau nhưng NỊ muốn nói đến tình yêu vì vốn dĩ, yêu thương bền lâu chính là một thử thách lớn lao và khó khăn nên ĐỢI không chỉ dành riêng cho những người có chung một hoàn cảnh . hihi

          • NGỘ nói:

            Hầy.. Đọc truyện ĐỢI của người mà bụng Ngọ lây cũng thấy buồn thúi bộ ruột. Yêu là cái chi mà cứ thấy Nị là Ngọ lây lại chờ. Chờ quài đợi mãi đến mỏi mòn con mắt vẫn chưa thấy hồi âm. Tính ra bà Mịch trong truyện vẫn còn tốt phước hơn Ngọ lây nhìu lắm. Tuy xa mặt nhưng hông cách lòng bởi có người luôn ĐỢI . Còn ta thì… Hic.. hic Nị oi…

            • NỊ nói:

              Thấy mà …chờ là hông thể …đợi ! Hihi …Thấy rùi hẹn thì mới đợi được nhe Ngộ ! Hihi…
              Mai NỊ mời Ngộ một chầu ” khoái ăn sang ” hén !Dzẫy là cứ …đợi nhe !!!hihi…

              • Ngô Văn Cư nói:

                @Nị & Ngộ
                Thì ra chỗ Bạn bè xứ Nẫu đang tán hươu tán vượn lại có mấy kẻ Minh Hương lẻn vào hú hí, hẹn hò! Bắt tại trận rồi đấy nhen. Có anh Tám làm chứng.

        • Ngô Văn Cư nói:

          Hoan hô anh Tám đứng dzề phe tui. Thấy chưa Nị? Cái nghề hổng gọi là nghề anh Tám cũng đâu có thua gì tui đâu. Khà khà…

  4. LyLy nói:

    ” Những ngày tưởng như hạnh phúc ấy dài không quá gang tay, khi vợ người tài xế kia tìm đến…”
    Rồi sao ? Hồi hộp quá mà lại đứt quãng không thấy nói tiếp đoạn này vậy hở anh ? Nhưng thôi, cám ơn Trời cám ơn người đã cho cô ấy một cuộc sống bình yên bên đàn cháu, con ngoan đến cuối đời như vậy là mừng lắm rồi. Đã lỡ cô đơn đã lỡ đợi chờ không gặp mặt được Cố Nhân nhưng bù lại sắp nhỏ từ nay biết chúng còn Cha – còn Ông thì dù nhắm mắt xuôi tay đối với cô ta cũng là mãn nguyện. Một câu truyện hình như có thật, được nhà văn cho đọc rất cảm động. Cám ơn tác giả.

    • Ngô Văn Cư nói:

      @Ly Ly
      -Rồi xong phim về những ngày hạnh phúc!
      -Nói làm chi thêm buồn!
      Cảm ơn LL đã đọc một câu chuyện hình như là có thật.

  5. NGUYỄN LƯỢNG nói:

    Nỗi đau của cuộc đời sóng gió không hề nhỏ nhưng nỗi đau của một người trở về khi mà khoảng cách chờ đợi giữa hai người yêu nhau chỉ còn trong gang tấc mà lại hóa thành sự chờ đợi mãi mãi trong vô vọng .
    Câu chuyện cảm động lắm .

    • Ngô Văn Cư nói:

      @Nguyễn Lượng
      Vâng, người ta nói quay đầu là bờ. Nhưng khi đã ở giữa biển khơi thì quay đầu lại vẫn mịt mùng mây nước…
      Cảm ơn đã đọc.

  6. TÂY THI nói:

    – Nỗi buồn trong ngày vui, là sao?
    – Là bà Mịch đụng vào dây điện trần…
    _______________________
    Truyện lôi cuốn, đọc nhanh một mạch từ đầu chí cuối chỉ để tìm xem đằng sau sự cực khổ gian truân của bà Mịch là gì ? Nhưng hởi ôi… Một cái kết rất bất ngờ. Viết chi mà tội người ta, sắp sao mà tàn ác rứa thầy NVC ơi !
    Để cuối cùng… Ông lão kia phải ” mắt vô hồn thẩn thờ nhìn vào khoảng trống mông lung.” Thật là tội nghiệp, đọc thì hay nhưng tàn nhẫn quá thầy ạ ! Hic hic…

    • Ngô Văn Cư nói:

      @Tây Thi
      Tàn ác rồi tàn nhẫn? Vậy bà Mịch cứ sống và gặp ông Hoàng về sau nhiều năm, bà và ông không nhận ra nhau… có tàn nhẫn hông dzậy?
      TT gợi một cái kết thật đẹp giùm nhen.
      Cảm ơn trước đấy.

  7. NHƯ NGỌC nói:

    Câu chuyện viết rất chân thật . Nghèo khổ đưa đẩy con người tới những việc làm tồi tệ nhưng cuối cùng họ cũng có niềm tin để thoát ra vũng lầy : đứa con và chồng là sức mạnh để bà Mịch từ giã năm tháng tủi nhục .
    Đợi …ước vọng của một tình yêu ! vậy là chấm dứt truyện vẫn là Đợi thôi anh Ngô Cư ơi .

    • Ngô Văn Cư nói:

      @Như Ngọc
      Tên truyện đã là ĐỢI nên phải đợi!
      Vâng, sống trên đời này phải có niềm tin để sống.

  8. Nhật Nam nói:

    Một câu chuyện tình dang dở bởi chiến tranh, đợi chờ sau chiến cuộc thật bi ai thật buồn tủi, tiếc thương cho số phận một con người. Tác giả đã cho xem lại một khúc phim buồn của 40 mươi năm trước thiệt hay !

  9. Nam Thi nói:

    Tôi được đọc khá nhiều truyện của Ngô Văn Cư, phần nhiều tôi thích vì các chủ đề nông thôn với góc nhìn của một người thuộc thế hệ tôi, chứng nhân của những biến cố lịch sử lớn ở Miền Nam mà 1975 là một cột mốc phân chia làm hai giai đoạn chiến tranh và hậu chiến. Truyện ngắn nầy của anh thuộc về giai đoạn hậu chiến. Với tư cách chứng nhân lịch sử anh không đứng về một bên để tái hiện hiện thực cuộc sống mà lấy sự cảm thông, chia sẻ những số phận con người làm nền tảng tư tưởng chủ đạo cho truyện.

    Thật vậy, thân phận của bà Mịch, Cô Liễu, ông Hoàng và Trần xét cho cùng là thân phận của những nạn nhân cuối cùng của cuộc chiến để lại. Sự chia lìa vợ chồng (Mịch), con cái mất cha mẹ (Liễu) trong những ngày lửa khói cuối cùng vào mùa xuân năm 1975 là những vết thương không chảy máu nhưng đau lòng của cuộc chiến. Vết thương thì có thể liền da liền thịt nhưng sự đau lòng thì vĩnh viễn.

    Đọc truyện tôi nhớ đôi câu mở đầu của Chinh Phụ Ngâm:

    “Thuở trời đất nối cơn gió bụi
    Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên
    Xanh kia thăm thẳm từng trên
    Nào ai gây dựng cho nên nỗi nầy”.

    Khách má hồng ở đây là Mịch và Liễu và vô số những phụ nữ đáng thương khác.

    Đọc đến cuối truyện, bà Mịch chờ ông Hoàng trở về, tôi lại nhớ đến “Kiều tái hồi Kim Trọng”:

    Gẫm hay muôn sự ở đời
    Trời kia đã bắt làm người có thân
    Bắt phong trần phải phong trần
    Cho thanh cao mới được phần thanh cao.

    Bà Mịch đã chết vì bị điện giật ngay hôm ông Hoàng trở về. Tôi không nghĩ đó là tai nạn mà bà chủ tâm quyên sinh để “được phần thanh cao” của bà. Dầu cho tác giả không có ý đó thì tôi vẫn cho là như thế. Đó là cao trào của tấn bi kịch còn dài hơn mười lăm năm lưu lạc của Kiều. Đó là sự lựa chọn quyết liệt hơn Kiều – sự lựa chọn cái chết. Tôi nhớ một câu của Shakespeare :” Hỡi tình yêu, hỡi cuộc đời. Không là cuộc đời mà tình yêu trong cõi chết ” ( Oh love, oh life. Not life but love in the death).

    Cuối cùng, giá như anh Ngô Văn Cư đầu tư viết thành một truyện dài phục hiện cả giai đoạn và bối cảnh đã xảy ra tấn bi kịch ấy, của những con người ấy…Tôi cũng từng nuôi tham vọng như thế nhưng không đủ văn tài và quyết tâm để thực hiện một công trình tương tự.

    Tôi rất thích tác phầm nầy.

    NT

    PS. Tôi thấy có một vài chi tiết anh Cư xem lại:
    – QL 25 (tức lộ 7 cũ) nối Gia Lai xuống Phú Yên, còn QL 26 nối Buôn Mê Thuộc xuống Khánh Hòa, giao điểm với QL 1A ở Ninh Hòa ( qua đèo Phượng Hoàng). Nói trong đoạn di tản của gia đình Liễu…
    – Ở đoạn “Ông Hoàng về thật” có một lỗi morasse nhỏ nhưng làm câu tối nghĩa “KIẾN ai cũng ngạc nhiên”, có lẽ là KHIẾN mới đúng.

    • Ngô Văn Cư nói:

      @Anh Nam Thi
      -Đọc kỹ quá nhen. Đúng là có lỗi chính tả KIẾN -> KHIẾN. Bản chính đã sửa nhưng bản này thì chưa. Khà khà… Nhớ Ạc-min sửa giúp!
      -Còn cha của Liễu phải chạy trên lộ 7 để về Phú Yên vì: Cha là một hạ sĩ quan lính cộng hòa thuộc sư đoàn 23 đóng quân ở Plei-ku. Khà khà…
      Cảm ơn anh nhen.

  10. Hồng.Tuyết nói:

    Sao laịi cho bà Mịch chết trong giây phút này tác giả ơi?Bao nhiêu thăng trầm , sóng gió , tủi nhục đã qua thì nên cho bà Mịch gặp được ông Hoàng rồi sau đó có nhắm mắt cũng thoả mãn. Ngô Cư ác thiệt . Thế là bà Mịch lại tiếp tục …đợi.
    Mốt tác phẩm khắc họa nỗi đau đời người gợi cảm xúc rất buồn cho mình.

    • Ngô Văn Cư nói:

      @Hồng Tuyết
      Úi cha, gặp được ông Hoàng thì bà Mịch làm sao nhắm mắt được! Thôi thì cái số đã định như thế. Ai cưỡng lại được. Cũng vì vậy mà ai cũng… đợi! Ừ thì buồn…

  11. THY NGA nói:

    Nội dung xây dựng gần với cuộc sống . Cuộc đời cuả một số phậnđược tác giả diễn tả quá buồn . Sự đợi chờ này có một kết thúc bi thảm . Biết nói gì hơn vớ 2 tiếng bất ngờ. Hay lắm anh Ngô Cư.

  12. Thân là thể Nhục lắm đầy cực!Cực khổ mượn nó sống lây lất!Rồi cũng hết một đời Thân mất!Tình vẫn như ”Số Không”nào gặp!-Lửa tình cố giữ rồi tắt ngúm!Buồn kiếp người hai tiếng yêu thương!?Kiếp sống còn cứ đợi mỏi mòn!Phút cuối cùng vẫn chỉ ”Số Không!”-Phụ nữ bất hạnh sống đường cùng!Rơi vào tình huống”xoay chuyển sống”Nghề hèn-Sống Chọn-Lỗi môi trường?Chiến tranh -Tình thế bắt buộc sống?Chuyện đời vẫn mãi”Chuyện dài dòng…!”Dù sao đi nữa”Vẫn là Sống”Với một trái tim ”Sống hết lòng!”Cho cả yêu thương và hy vọng ”Tình yêu Lẽ Sống Của đời thường!”…Nhân vật Mịch đầy ấn tượng?Sống như ”Cho qua giai đoạn!”đau buồn! Thâm tâm vẫn niềm tin tưởng”Gặp người xưa- một tình thương yêu thật sự!?”

    • Ngô Văn Cư nói:

      @aitrinhngoctrana
      Một cái còm không thể sâu sắc hơn, chứng tỏ người đọc rất kỹ.
      Cảm ơn nhen.

  13. nói:

    Tiếc cho bà Mịch thật. Đúng là số phận đen như mõm chó.
    Truyện xưa tích cũ nhắc mà chi, đau lòng già lòng non lắm nghen ông Cư. Nhớ giỏi mà viết cũng hay ! khà khà..

    • Ngô Văn Cư nói:

      @Nô
      Đọc xong cái còm của anh, tui phải chạy xuống nhà dưới xem thử cái mõm con chó màu gì… khà khà… ĐEN! Dzẫy mà nhớ giỏi cái gì!
      Chúc dzui dzẻ

  14. nguyễn trí nói:

    Còn ông thì ngồi vào chiếc ghế mà bà Mịch đã từng ngồi, mắt vô hồn thẩn thờ nhìn vào khoảng trống mông lung.
    Kết như thế nầy là đẹp.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s