BẾP  LỬA CUỐI ĐÔNG

Truyện Ngắn
         NAM THI

bep

          GẦN sáng, tôi thức giấc vì thấy lạnh. Tôi nằm im trên giường để tận hưởng cái lạnh quê nhà mà tôi luôn nhớ nhớ, thèm thèm mỗi khi họa hoằng trời Sài Gòn trở lạnh. Bây giờ thì tôi đang nằm đây, ngay trên quê hương mình, nghe hơi lạnh phả vào mặt, len vào tấm chăn đang đắp.

           Nhiều năm rồi mãi bận bịu chuyện kiếm sống ở phương Nam không về quê được, tôi nhớ da diết cái lạnh cuối Đông ở quê nhà. Nhớ lắm mưa dầm, gió bấc, con sông nước bạc dâng tràn, những cây sầu đông trụi lá. Nhớ bếp lửa hồng chụm bằng củi gốc tre khô, nhớ ngọn lửa “cười” lập lòe, nhớ mùi khói bếp cay cay. Nhớ tiếng nước sôi trong ấm đất. Nhớ miếng cơm cháy giòn thơm dưới đáy nồi đồng…Những thứ ấy đã lùi dần vào quá khứ. Chỉ về đây, căn nhà nhỏ của chị Hai tôi, tôi được thấy lại những thứ đó, không phải để trưng bày như trong bảo tàng mà hầu hết đang được sử dụng hàng ngày như mấy chục năm trước, thậm chí như từ thời đồ đồng hai nghìn năm trước truyền lại.

          Tất cả như cố sống sót, vượt qua sự hủy hoại của thời gian. Ngay cả tấm mền dạ màu cỏ úa sinh sau đẻ muộn tôi đang đắp cũng đã có hơn bốn mươi năm, trước khi chiến tranh kết thúc năm 1975. Đó là một chiếc mền nhà binh của Mỹ, lúc xẩm tối anh rể tôi lấy ra từ trong tủ “chỉ dành cho khách” – như lời anh nói. Có lẽ, lâu lắm chiếc mền chưa có người dùng nên sực nứt mùi mốc xen lẫn với mùi long não, khiến tôi không thể đắp phủ đầu mặc dầu trời lạnh. Tôi dự định sáng nay sẽ đem phơi nắng, nếu trời mưa tôi cũng hong gió trong hiên để nó “đảm” bớt mùi ẩm mốc.

        Con gà trống vỗ cánh gáy trong chái chuồng bò, đánh thức những con gà hàng xóm gáy theo… Tôi nghe tiếng chị tôi và anh rể mở cửa rất khẽ, chắc họ không muốn đánh thức tôi. Tôi vén mùng, bước xuống giường, mở đèn pin của chiếc Nokia soi đường. Anh rể tôi hỏi vọng vào: “ Cậu không ngủ thêm, còn sớm mà…”. Tôi đáp, “ Ở Sài Gòn em cũng quen dậy sớm anh Hai à”. Đèn điện được anh tôi bật lên. Nghe tiếng anh nói với chị tôi,  “Bà có nấu nước pha trà, chừa lại một ít để tôi pha cà phê cho cậu Sáu. Tôi ra bỏ rơm cho bò đây”. Anh nuôi hai con bò, một đực một cái. Tuy đã lớn tuổi, anh vẫn còn lao động khỏe, một mình canh tác mấy đám ruộng, chăn thả bò, còn thay chị tôi đi chợ ngoài Quốc lộ 1 mua thức ăn vì chị đã yếu đi lại khó khăn. Anh vẫn còn dùng bò để cày mấy đám ruộng nhà mà không thuê máy cày. Tôi có hỏi chuyện đó thì anh cho biết mấy đám ruộng nhỏ cày bằng bò tốt hơn máy cày vì đường cày có thể vào sát bờ, sát góc; hơn nữa bò còn cho phân bón ruộng tốt đất hơn phân hóa học. Con bò cái còn đẻ mỗi năm một lứa…

          Anh chị tôi đều đã gần tám mươi, hai con trai và cô con gái út đều làm nghề giáo, hai ở Bình Định và một Sài Gòn. Họ có cả chục cháu, chắt nội ngoại. Trước năm 1975, gia đình anh ở xóm ga Quy Nhơn. Anh vốn là hạ sỹ quân nhu, đi học tập mấy ngày rồi về luôn Cát Hanh, dựng lại căn nhà nhỏ trên nền nhà cũ đã cháy năm 1965. Chị Hai tôi ở lại Quy Nhơn buôn bán lặt vặt để lo cho ba đứa con còn đi học. Một mình anh vỡ đất hoang, ruộng sâu trồng lúa, đất thổ trồng khoai sắn, đậu phụng. Hàng tuần anh đạp xe 40 km từ ga Khánh Phước về Quy Nhơn chở theo bao gạo, bao khoai, buồng chuối, con gà, mớ cá đồng,… rồi khuya hôm sau lại quay về cho kịp ra đồng buổi sáng. Nhà ăn không hết thì chị đem bán kiếm thêm tiền “mua mắm”. Thời khổ cực người ta không nói đi chợ mua thức ăn mà “mua mắm” vì mắm là thức ăn chính. Khi con cái đã học xong trung học, lần lượt vào trường sư phạm chị mới theo anh về quê. Mấy đứa con ra đi dạy, anh dành dụm dựng lại ngôi nhà lợp ngói khang trang làm nơi thờ phụng tổ tiên và có chỗ cho con cháu đoàn tụ trong những ngày giỗ, tết.

          Nông thôn được điện khí hóa, Cát Hanh có điện sớm nhất vì ưu tiên cho “xã anh hùng” thời chiến tranh chống Mỹ. Mấy đứa con anh tha về đủ thứ nào TV, video, nồi cơm điện,… đời mới cũng có nhưng đa số là những thứ chúng không dùng nữa. Anh chị tôi nhận hết, nhưng chỉ dùng mỗi một chiếc TV 14” Sony đời cũ. Anh cũng có một chiếc điện thoại di động Sam Sung có nắp của người con trai thứ cho nhưng anh chỉ gọi đi khi thật cần thiết, chủ yếu để nhận cuộc gọi của con cháu. Ngoài chiếc TV, anh còn một món bất ly thân khác là chiếc radio transistor 4 bands hiệu SONY ra đời từ đầu thập kỷ 60 của thế kỷ trước. Anh giữ rất khéo nên vẫn thu sóng tốt, ngay cả cái bao da màu nâu hầu như vẫn còn nguyên vẹn. Nhưng thứ quý nhất của anh là bộ đồ thờ bằng đồng, thau đồng, mâm đồng, mấy cái chén bát “kiểu”, đó là những món gia bảo anh được thừa kế, không biết anh làm thế nào giữ được sau ngần ấy năm chiến tranh, lưu lạc…Anh nói với tôi rằng có khi hết gạo hay thiếu tiền học cho con anh có ý định bán một vài món cho những người buôn đồ cổ nhưng anh không nỡ, đã mang đi rồi lại mang về cất. Anh nói, “ Thật ra những món ấy cũng không phải quá quý hiếm nhưng là của ông bà để lại, bán sao đành…Mình cố giữ hết đời mình, rồi giao lại cho mấy đứa con, chúng có lòng thì giữ, …”.

         Trong khi anh rể đi bỏ rơm cho bò, tôi xuống bếp với chị tôi. Chị đã nhen xong bếp lửa bằng lá dừa khô, bắc cái ấm đất trên “ông táo” cũng bằng đất nung. Khi lửa đã bén, cháy thành ngọn, chị chụm thêm vào mấy thanh củi chẻ từ gốc tre già. Chị chỉ cho tôi một chiếc “đòn” để tôi ngồi xuống cạnh chị. Tôi xòe hai bàn tay gần bếp để sưởi. Ánh lửa soi rõ những nếp nhăn và mái tóc sưa bạc trắng của chị. Mà tóc tôi cũng đã muối nhiều hơn tiêu – “hai chị em tóc bạc như nhau” (*) Vì lưng chị đã còng nên khi ngồi dưới đất hai đầu gối của chị nhô cao ngang vai. Với cái ống tre, chị phều phào thổi lửa có vẻ rất khó khăn vì răng đã rụng gần hết không giữ hơi được. Tôi giành lấy ống để thổi giúp chị. Tôi bảo chị, “ Nhà có bếp ga, có ấm điện sao chị không dùng cho tiện”. Chị đùa, “ Còn chút hơi nào thì thổi lửa cho vui. Mà chị thích nhìn ngọn lửa, chớ ấm điện làm gì có lửa…”. Tôi cãi, “ Không dùng ấm điện thì nấu bếp ga, cũng có lửa mà…”. Chị cười, “ Thì có đấy, nhưng ngọn lửa xanh lè như ma trơi … Cực chẳng đã mới bật đèn điện, chứ chị thích đèn dầu hơn. Hồi còn ở Quy Nhơn, nhà chị cũng thắp đèn dầu vì người ta chỉ cho câu nhờ một bóng đèn bắc ở nhà trên cho mấy đứa học bài …Bây giờ, nhà chị chỉ xài hơn 10 ký điện mỗi tháng”.

          Nước bắt đầu reo trong ấm, hơi nước sôi phun ra nơi đầu vòi… Chị pha trà và rót nước vào bình thủy để dành cho chồng pha cà phê. Chị vo gạo nấu cơm. Ở quê người ta vẫn quen ăn cơm sáng cho “chắc bụng”. Thấy chị bắc chiếc nồi nhom lên bếp, tôi hỏi: “Ủa, chị không nấu bằng nồi đồng nữa sao?”. Chị vừa chụm thêm củi vừa đáp: “ Mấy cái nồi lâu ngày bị thủng nhiều lỗ mọt hết hàn được. Bây giờ người ta không còn bán nồi đồng nữa. À, chị còn cất cái nồi một, hồi đó mình thường nấu cơm cho mẹ em nhớ không. Mẹ mất, chị đem cất, rồi đi đâu cũng mang theo. Nồi còn tốt, nấu còn được. Chị vẫn dùng chiếc nồi đó nấu cơm cúng ngày giỗ mẹ”.

 Tôi thật không ngờ chị còn giữ kỷ vật của mẹ tôi, mang cái nồi theo về nhà chồng, lưu lạc tứ xứ cho đến cuối đời.

         HƠN sáu mươi năm trước, tôi cũng thường ngồi cạnh chị bên bếp lửa hồng. Chị thường dậy sớm, nấu cơm, nấu nước cho mẹ tôi trước khi ra đồng. Cha tôi mất sớm, mẹ đau nặng, chị thay mẹ chăm lo ba đứa em. Mỗi bữa chị phải nấu hai nồi, nồi “lỡ” độn ba phần khoai sắn một phần gạo cho bốn chị em tôi, và nồi “một” vừa đủ một bát cơm không độn cho mẹ tôi ăn cả ngày. Cơm gạo lúa trì nấu bằng nồi đồng thơm dẻo, chấm muối rang ăn cũng ngon. Tôi thường được chị cho ăn ké ít cơm nguội, cơm cháy vét từ nồi cơm của mẹ tôi.

 Nhà tôi có đủ cỡ nồi, nhỏ như nồi một, nồi lỡ, lớn như nồi hai, nồi bảy dùng khi có đám tiệc đông người. Đến giờ tôi cũng không hiểu cách đặt tên nồi như thế, có lẽ dựa trên số người ăn nhưng tại sao không có nồi 4, 5, 6 người ăn mà nhảy cóc từ 2 lên 7. Tôi có hỏi một số người lớn nhưng cũng chẳng ai có lời giải đáp hợp lý.

        Tuy tôi ăn chung nồi cơm độn với các chị nhưng vẫn được ưu tiên ăn nhiều cơm hơn khoai sắn. Đó là do chị tôi không dùng đũa bếp khuấy hông của nồi để cơm không lẫn với khoai độn. Nồi đồng có cái hông phình ra nối tiếp với đít nồi  có tiết diện lớn gấp đôi miệng nồi, nhờ vậy cơm mau chín vì có mặt tiếp xúc với lửa rộng. Muốn cơm chín đều thì phải dùng đũa bếp khuấy vài lần. Khi cơm sôi cạn nước thì vần xuống tro nóng, thỉnh thoảng lại xoay tròn cho các phía của hông nồi nhận đều hơi nóng từ bếp tỏa ra, như vậy cơm mới chín đều. Vung bằng  đất nung phải lót tấm lá chuối để kín hơi. Từ bé tôi đã học thổi cơm bằng những cái nồi ấy, cho đến khi thành thạo thì rời quê ra tỉnh học, cũng từ đó tôi không còn cơ hội nấu cơm bằng nồi đồng nữa.

        Nhà của cha mẹ tôi rộng nhưng thuở ấy chị em tôi thường sinh hoạt quanh bếp lửa, nhất là những ngày mưa dầm, gió bấc. Sau khi mẹ tôi mất, mấy chị em tôi chen chúc ngủ trên tấm chiếu trải gần bếp. Ban đêm, ai cũng sợ không dám ra ngoài, chỉ có chị Hai dám lên nhà trên thắp hương bàn thờ mẹ. Mồ mẹ gần nhà. Mỗi hoàng hôn chị bưng thúng trấu dắt chúng tôi ra un dưới chân mộ cho “ấm” vong linh mẹ. Ánh lửa trấu lập lòe vẫn theo tôi đến bây giờ. Lưu lạc ở Nam bộ, những lần thấy người ta đốt đồng, un trấu, nhìn thấy lửa và ngửi mùi khói là tôi nhớ cảnh chị em tôi sưởi mồ mẹ ngày đó.

 Mỗi khi cúng mẹ, chị lấy cái nồi một ra nấu cơm cúng và lần nào chị cũng khóc. Lúc đó thấy chị khóc bọn tôi chỉ biết thút thít khóc theo thế thôi. Sau nầy, khi đã lớn tôi càng thấm thía những giọt nước mắt của chị. Tôi nghe kể lại, khi mẹ tôi sắp mất, bà nắm tay chị và hai mẹ con cùng khóc. Chắc rằng mẹ tôi biết sắp xa chúng tôi nên bà đã phó thác việc nuôi nấng bầy em cho chị. Chúng tôi xem chị như người mẹ thứ hai. Khi chị Ba tôi được 17 tuổi, chị Hai tôi đi lấy chồng và chị Ba tiếp tục công việc của chị để lại…

 HÔM tôi rời nhà chị để trở lại Sài Gòn, chị tôi lấy cái nồi đồng của mẹ mà chị đã giữ hơn nửa thế kỷ trao cho tôi. Chị nói: “ Chị lớn tuổi rồi, không biết sẽ đi theo mẹ khi nào, nên chị giao nó lại cho em giữ. Tội, mẹ không để lại kỷ vật nào khác ngoài cái nồi nầy…”.

Chị lấy tay áo quệt nước mắt…*

 NAM THI

Bài này đã được đăng trong Văn và được gắn thẻ . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

36 Responses to BẾP  LỬA CUỐI ĐÔNG

  1. Phan Nho Thiện nói:

    Luống ngậm ngùi! Ngày xưa đẹp mà rướm lệ! Hoài niệm ăm ắp tình người! Những nhân vật trong truyện thơm mùi lửa quê thuần phác. Một truyện ngắn giàu nhân văn! Cám ơn người viết đã lưu giữ, nâng niu và trân trọng quá khứ!

    • Nam Thi nói:

      Người ta chia thời gian thành quá khứ, hiện tại và tương lai, lấy mốc hiện tại để phân định hôm qua và ngày mai, cái đã xảy ra và cái chưa xảy ra. Tương lai thì vô định, chỉ có hiện tại và quá khứ là ta có thể biết, có thể nhớ. Hiện tại thực ra rất mong manh, mau chóng trở thành quá khứ, cho nên suy cho cùng “cuộc đời là dĩ vãng” (Đỗ Tốn).

      Nói đến đời tôi, đời anh là nói về dĩ vãng của tôi của anh. Nói về lịch sử của một đất nước là nói đến dĩ vãng của đất nước đó. Thế nhưng, người đời thường lơ là với dĩ vãng, ngay cả dĩ vãng của chính mình. Học sinh ít thích môn lịch sử cũng do thói quen ấy.

      Hầu như văn chương luôn nói về dĩ vãng, ngay cả tiểu thuyết khoa học viễn tưởng cũng có nguồn gốc của dĩ vãng. Trong văn chương Anh-Mỹ, người ta dùng động từ của thì quá khứ. Bởi truyện là kể chuyện đã xảy ra, dầu là tưởng tượng, hư cấu.

      Vậy thì Phan Nho Thiện nói ” lưu giữ, nâng niu và trân trọng quá khứ” là hết cãi.

      Cảm ơn Nẫu đã đọc truyện.

  2. THY NGA nói:

    Một câu chuyện mang những hoài niệm về một quãng thời gian trong cuộc đời được viết tự nhiên , mộc mạc nhưng dấu ấn để lại trong lòng người đọc rất đậm đó là tình cảm đối với con người ,sự vật và quê hương nơi mình đã sinh ra và lớn lên .
    Bây giờ mới biết anh Nam Thi cũng giỏi chuyện nấu cơm , kho cá đó nghen ! Hihi

    • Tám Xóm Chùa nói:

      Nay tay nghề nội trơ thuộc loại “quại hạng” rùi đấy. Không chỉ biết nấu cơm kho cá mà còn làm đồ nhậu hết sẩy lun.

      TXC trực thay cho NT bận rửa chén. Tậu 😦

      • NỊ nói:

        Hihi …Tám Xóm Chùa thủ thỉ dzí Nam Thi bày NỊ cách nấu cơm hổng sống , cháo hổng khê , nồi canh đừng cạn nước ….lúc đang ngồi ” hót ” trên trang Bạn bè xứ nẫu đi ! Oải quá nè ! Hihi…

        • Tám Xóm Chùa nói:

          Có hai cách:
          (1) Hót rồi mới nấu
          (2) Nấu rồi mới hót
          Vừa nấu vừa hót là thua, giống như vừa đánh răng, súc miệng vừa huýt sáo vậy.
          Pó tay. cơm khê.

          • Xuxu nói:

            Hót rồi mới nấu thì một ngày ăn có mỗi bữa ..chiều !Hihi
            Nấu rồi mới hót thì thiên hạ đi ngủ , hót dzí ai ! hehe

  3. THANH THẢO nói:

    Trong cuộc sống biết bao nhiêu câu chuyện đã xảy ra với mình , tất cả đều đáng nhớ dù vui hay buồn ta vẫn muốn nghĩ đến để hồi tưởng , để lòng mình sống lại thời đã qua và để …làm gì nữa hả anh Nam Thi ? Hihi …
    Truyện ngắn viết thấm đẫm tình nghĩa , đơn giản thôi nhưng với một người nặng nợ với quê hương , gia đình thì những câu chuyện kể ấy đủ sức làm xúc động người khác .

    • Nam Thi nói:

      Bạn hỏi tôi”…để làm gì nữa?”, và bạn đã trả lời rồi đấy ( ở câu cuối của bạn). Tôi nghĩa “tình nghĩa” , nặng tình với quê hương, gia đình…là “đáp án” hay nhất.

      Cảm ơn bạn đã đọc.

  4. NỊ nói:

    Đoc câu chuyện anh Nam Thi viết giống như anh đang kể chuyện , nhớ vanh vách những buồn vui xảy ra trong quá khứ , lấu lắm rồi …Trí nhớ của anh tốt thiệt ! Hihi…
    Người lớn tuổi cứ hay quên chuyện mới xảy ra nhưng lại nhớ chuyện ngày xưa thật rõ . Bài viết tràn đầy tình cảm và hoài niệm . NỊ thương nhất là đoạn nói về chiếc nồi đồng , nó như một ” báu vật ” không phải vì nó có giá trị về vật chất mà vì nó mang một ý nghĩa về giá trị tình cảm huyết thống . Tậu !!!!

    • Nam Thi nói:

      Hồi nào đãi cà phê anh xuất bản miệng vô số truyện cho Nị nghe nhe. Có những chuyện hấp dẫn “lém”…

  5. HÔM tôi rời nhà chị để trở lại Sài Gòn, chị tôi lấy cái nồi đồng của mẹ mà chị đã giữ hơn nửa thế kỷ trao cho tôi. Chị nói: “ Chị lớn tuổi rồi, không biết sẽ đi theo mẹ khi nào, nên chị giao nó lại cho em giữ. Tội, mẹ không để lại kỷ vật nào khác ngoài cái nồi nầy…”.
    Chị lấy tay áo quệt nước mắt…*
    ===================================
    Ôi Nam Thi ơi! những kỷ niệm đẹp quá. Nhất là trao kỷ niệm lại cho em là chiếc nồi một bằng đồng. Chúc Nam Thi khỏe, vui
    Giá mà ảnh cái bếp là ở quê mình thì hay biết mấy

    • Nam Thi nói:

      Hồi sáng tôi cũng trao đổi với ông Nobita rồi. Trong ảnh là cái lò và cái om kho cá chớ không phải cái bếp có ba ông táo đất đội nồi đồng. Tôi cũng biết tìm một hình phù hợp là rất khó, nhất là nay những vật dụng ấy hầu như đã biến mất dần.

      Nhân đây, xin nói về các loại dụng cụ nhà bếp đặc trưng xứ Nẫu để các bạn đọc chơi, nếu ai đã quên hoặc chưa biết:

      1: Nồi: có nồi đồng nồi đất như đã viết một phần trong truyện, Ngoài nồi phải kể thêm niêu đất. Do vậy mới có thành ngữ “nồi đất đổi nồi đồng” và “nồi niêu soong chảo”. Đương nhiên, ai cũng biết nồi dùng để nấu cơm. Cơm nấu bằng nồi đồng đã ngon (viết trong truyện rồi) nhưng nấu bằng nồi đất và niêu càng thơm ngon hơn vì đất nung không làm cơm dễ cháy, khê.

      2. Chảo đồng: Loại lớn ( tiết diện vành: # 30 cm) dùng để chiên, xào thức ăn, loại nhỏ ( tiết diện d # 10 cm) dùng chiên bánh quai vạc, bánh cốm,…

      3. Chảo đất: dùng để kho ca, thịt, nấu canh…có hai loại trách ( đáy sâu, tiết diện # 20 cm), trã ( đáy cạn, bẹt). Tên gọi hai dụng cụ nầy có xuất xứ từ tiếng Căm, trách = trak, trã = tra. Trách trong tiếng Việt đồng âm là trách móc, nên người ta ghép với trã thành trách trã, cũng có nghĩa là trách móc nhưng với hàm ý trách móc tầm bậy, bá vơ. OM đất cũng là dụng cụ nấu thức ăn, nay người ta dùng để “kho tộ”. Thật ra cái tộ là một loại bát lớn, thân thon nhỏ dần, khu nhỏ, thường dùm để chưng cá, thịt…người ta có hình dung từ “mắt khu tộ”, để chỉ loại mắt người to, tròn quá cỡ. Khuôn bánh xèo, bánh căng, vân vân

      4. Thau đồng, mâm đồng, tráp đồng, lọ đồng, vân vân thường dùng làm đồ thờ cúng.

      5. Lu, ang, tĩn, chậu, ú, …đất nung hay sành dùng chứa nước, ướp dưa, chứa mắm, nước mắm (tĩn, ú).

      6. Lò, ông táo, ấm đất, vân vân…

      Lu cũng xuất xứ từ tiếng Chăm (blu), trong khi người phía Bắc gọi là chum hay vại. Miền Nam cũng dùng từ lu, trong câu hát : “thân em mập ù như cái lu…”.

      Vì mấy năm trước về BĐ tôi sưu tầm mấy thứ nầy để tiêu khiển nên có được một mớ, vì sợ rằng sau nầy không còn nữa.

      • Nam Thi nói:

        Bổ sung:
        – CHÕ, dùng để nấu xôi bằng chưng hơi nước. Hình dáng chõ đất không thay đổi mấy so với chõ đồng mấy nghàn năm trước. Chõ được đặt trên nồi nước, khi đun sôi, hơi nước sẽ bốc lên theo những lỗ nhỏ dưới đáy chõ làm chín xôi.

        7 Dụng cụ đan bằng tre: rổ, rá, dừng, sàng, nia, nong, cão, rổ sảo
        – Rá giống như rổ nhưng đan sưa, chỉ để đụng rau
        – Dừng giống như sàng nhưng đan sưa để giữ lại vụn rơm, rác lẫn trong lúa (hạt lúa nhỏ có thể rơi xuống qua lỗ)
        – Rổ sảo, sưa hơn ( lỗ vuông cạnh 1 cm). Nên có thành ngữ “bụng dạ như rổ sảo” để chỉ người ruột để ngoài da, không kín miệng.
        – Giỏ, bội đan bằng tre, lỗ lớn dùng để gánh đất, đựng trái cây, cỏ,…
        – Nong, nia ( khác nhau kích cỡ và nang0, no0ng lớn, nia nhỏ.
        – Cão: là một loại giống rổ, đan dày, dùng để do lường lua lớn hơn là giạ, vuông làm bằng gỗ). Người ta dùng ống gạc ( làm bằng thân tre, trúc) để gạc miệng khi “đong” thóc, đậu,…bằng những dụng cụ đo lường vừa kể. Ngưới ta thường nói “coi chừng cha đó dắt ống gạc sau lưng” để chỉ người xảo trá, lường gạc.

        Vân vân

        • Miền Tây nói:

          Còn cái NƠM và cái ĐÓ nữa nhà văn Nam Thi à
          Cái Nơm ngày xưa đi theo chân mấy người bừa ruộng, khi đó cá tràu (lóc ) nhảy lên úp một cái có bữa nhậu liền
          Cái Đó dùng để chặn dòng nước Khi cá bơi ngược dòng sẽ vào Đó Mùa này Miền Trung có mưa lũ nhiều nơi còn dùng để bắt cá .
          Nói đến thúng, mủng, nong, nia cũng nên nhắc đến cái Dần và cái Sàng anh Nam Thi hén ?
          Xin lỗi, em còn nhỏ tuổi hơn U 70 Và em ..không phải người Miền ….Tây hì hì hì hì
          Em là dân củ mì – 77 “chăm phần chăm “

          • Tám Xóm Chùa nói:

            Dạ, nơm, đó, lờ, trúm,…đó là những dụng cụ bắt cá. Ngoài ra còn thúng, mủng,…Nhưng ở đây tôi tập trung liệt kê dụng cụ nhà bếp. Dần, sàng…tôi đã liệt kê rồi.
            Miền Tây không phải Miền Tây. Dzui quá. Tui Nẫu rặc. Xí quên, mẹ tui người Huế.
            Nhưng củ mì đã nuôi chàng.

            Cảmơn dồng hương.

  6. NGUYỄN HOÀI nói:

    Một câ chuyện xúc động , xúc động vì sự nặng lòng của người viết đối với những điều ngỡ như người khác có thể cho đó là việc tầm thường . Mỗi một câu chuyện xuất hiện trong trí nhớ , mỗi vật còn lại …vẫn được tác giả ” nâng niu ” , trân quí !!!
    Cuộc sống thay đổi theo thời gian , lòng người cũng không là bất biến thế mà có những cái cứ hằn sâu trong lòng không thể quên anh Nam Thi ơi !

    • Nam Thi nói:

      Bạn nói rất chí lý rằng những việc, những vật rất tầm thường với người nầy nhưng lại trân quý đối với người kia. Tôi có thể kể một câu chuyện về những đồ vật trong nhà mà tôi không nỡ vất đi, thậm chí đó là cái võng rách đang mắc gần chỗ tôi ngồi đây, bởi gần 30 năm trước một người anh ở quê mang từ BĐ vào biếu tôi, nay anh không còn nữa. Mấy đứa con tôi đều được bà ngoại của chúng ru trên chiếc võng ấy, nay bà đã khuất và mấy con tôi đã lập gia đình riêng. Hôm nọ, con út về thăm nó đã ru con của nó trên chiếc võng ấy. Tậu! 😦

  7. HẰNG VY nói:

    Như một tản văn , tự truyện , bài viết khơi gợi những điều rất cũ , rất xưa nhưng lại tràn ngập tình cảm thể hiện nỗi niềm của một người đã trải qua thời gian sống với những kỷ niệm đó bằng lối viết chân thành , dễ cảm .

  8. NGUYỄN VĂN LƯỢNG nói:

    Truyện ngắn với lối kể chuyện hoài niệm quá khứ của người lớn tuổi vương vấn với những bếp hồng đỏ rực , với cái lạnh quê hương , với những âm thanh của miền quê quen thuộc ….Tất cả được thể hiện trong mối quan hệ sâu nặng nghĩa tình , chân chất , đọc rất cảm động .

    • Nam Thi nói:

      Không biết sáu mươi năm sau, một nhà văn mới sinh nam 2014 có viết như thế không nhỉ? Chẳng lẽ cái bếp ga, smartphone model 2014 được tái hiện? Năm 2074 đâu có lâu lắc gì…

  9. BÍCH HẰNG nói:

    Truyện ngắn hoài niệm với cuộc sống đã qua gợi những hình ảnh của cuộc sống đơn sơ , mộc mạc , và chính những cái bình dị ây làm lòng người khó quên được khi đang sống đầy đủ . Qúa khứ bao giờ cũng làm nên kỷ niệm vui buồn mỗi khi nhớ đến .
    Văn viết mộc mạc , nhưng lại cuốn hút bởi sự chân tình đáng quí !

    • Nam Thi nói:

      Sáu mươi năm hơn mà cứ như hôm qua, bạn ơi. Các nhà lão khoa cho rằng bộ não của người lớn tuổi nhớ những điều xảy ra “hồi đó” hơn là những gì mới xảy ra. Ngày xưa bà nội tôi có lúc rối rít bảo chúng tôi đi kiếm cái khăn trầu “bỏ ở đâu mất tiêu”, thực ra cái khăn đang vắt trên vai bà. Giờ lớn gần tuổi tôi mới vỡ lẽ mình giống bà y chang.

      Những nhà thơ lớn tuổi thường viết về mối tình đầu, có lẽ cũng là hội chứng “hồi đó” chăng?

  10. NHƯ NGỌC nói:

    Một thời của quá khứ hiển hiện trong câu văn mộc mạc , bình dị , viết rất tự nhiên nhưng chất chứa đầy nỗi niềm , đọc thật cảm động !

    • Nam Thi nói:

      Cảm ơn bạn. Tuy không hẳn là tự truyện nhưng tấm lòng là của người viết đó, Như Ngọc ơi.

  11. Hoàng Văn Luận nói:

    Kính anh NAM THI. BẾP LỬA CUỐI ĐÔNG…của anh là một mảng nhỏ của quá khứ, một phần tuổi thơ anh. Tôi nhỏ hơn anh dăm tuổi, nhưng đọc cái này tôi thấy có tôi của thời ấu thơ trong đó. Chỉ có khác về địa danh. Anh ở miền NAM, tôi ngoài xứ BẮC. Nhưng người VIỆT mình đâu chẳng giống nhau. Tôi đang nung nấu viết lại những cái còn nhớ về tuổi thơ, về những người thân và làng xóm nghèo khó của tôi…để ra một tập sách gọi là MIỀN QUÊ CỔ TÍCH. Như một món quà cho bạn bè, con cháu. Hôm nay đọc truyện này của anh, ngọn lửa CUỐI ĐÔNG của anh đac hun nóng thêm cho ý định đó. Cảm ơn tác phẩm và tác giả thật nhiều.

    • Nam Thi nói:

      Mong sớm được đọc tác phẩm “Miền Quê Cổ Tích” của anh.

      Tôi sống ở Huế thời Trung học – Huế là quê ngoại của tôi. Rứa mà tôi chưa viết truyện nào về Huế cho ra hồn. Cái làng Mậu Tài của mẹ tôi cũng là một “miền quê cổ tích” đấy, thế nào tôi cũng phải trả món nợ nầy như truyện về Cầu ngói Thanh Toàn của anh.

      Viết lẹ lẹ nên nhe, đăng báo kiếm chút nhuận bút xong là gửi cho banbexunau ngay nhé.

      Thân

  12. Trần Quốc Tiến nói:

    Truyện của anh Nam Thi hôm nay viết giọng văn nghe buồn buồn Chắc là anh đang hoài niệm về quá khứ, về một thời đã xa.Câu chuyện mộc mạc giản dị nhưng nghe nhói nhói trong lòng .Em đồng cảm với anh về truyện ngắn này .Anh làm em nhớ những ngày còn bé .Nhớ quá !!!
    Chúc anh luôn vui vẻ trẻ trung và năng động nhé !!hiiiiiiiiii

    • Nam Thi nói:

      Đúng vậy, Tiến à. Người lớn tuổi thường hoài niệm – nhiều người viết hồi ký, kể chuyện hồi đó, vì sợ rằng một ngày nào đó sẽ được tiễn bằng hồi kèn, hồi trống…Tậu 😦

      Mỗi lần viết xong một truyện như thế nầy, dầu hay dở thế nào, tôi cũng thấy lòng nhẹ bớt. Hơn 50 năm sống xa quê, thoát ly dồng ruộng, đi dông đi Tây, vào nam ra bắc nhưng tôi luôn tự nhận mình là nông dân xứ Nẫu từ trong máu.

      Viết như trả nợ tinh thần cho nơi mình đã được sinh ra.

      Vâng, sẽ tiếp tục “chẻ chung”, dzui dzẻ với Tám Xóm Chùa, “giamahavui”…:(

  13. Miền Tây nói:

    Phút lặng nơi tâm hồn Việt !
    Đọc truyện xong thoáng chút suy tư. Những kí ức ngày thơ khốn khó vẫn ám ảnh vẫn mãi in dấu trong tâm trí của mỗi người khi nhìn lại quãng đời đã đi qua ……..
    Cuộc sống hiện đại với nhịp độ phát triển chóng mặt cả về vật chất và tinh thần .Có mấy ai ngược dòng kí ức để hoài niệm một thời với nồi đồng nồi đất…Có chăng họ chỉ mong cố quên đi những gì đã qua mà thôi ….May đâu còn lại * người của muôn năm cũ * hồi tưởng và nhớ về ngày xưa ….. Câu chuyện thật xúc động và sâu lắng .
    Cảm ơn nhà văn Nam Thi với truyện ngắn này .
    Kính !

    • Nam Thi nói:

      Trước hết, xin cảm ơn Miền Tây về sự đồng cảm. Tôi nay đã U 70, không biết bạn bao nhiêu tuổi nhưng có lẽ chúng ta cùng thế hệ nên dễ hiểu nhau không chỉ về văn chương mà cả về cuộc đời. Tôi tuy sinh ra ở BĐ nhưng lớn lên ở Miền Nam và cũng nhiều năm “lội” ở Miền Tây, cho nên tôi thấy về cơ bản nông dân ở miền nào cũng giống nhau không chỉ về đời sống, sinh hoạt mà còn cả về tâm tình, tâm linh nữa.

      Trước đây ba, bồn thập niên, ở nông thôn hầu hết dụng cụ nhà bếp đều làm bằng đồng hoặc đất nung, những vật liệu có từ thời đại đồ đồng, từ ít nhất 2000 năm trước. Cái nồi đồng hiện đại về hình dáng và kỹ thuật tạo tác chẳng khác mấy với những hiện vật đồng trong các bảo tàng dân tộc học. Cùng với văn hóa vật thể chắc chắn cuộc sống hiện đại vẫn bảo lưu những văn hóa phi vật thể, những giá trị truyền thông. Tôi tin điều đó.

      Câu chuyện về cái nồi đồng trong truyện nầy mới xảy ra vài năm trước, tôi chỉ thêm thắt một số tình tiết để viết thành truyện ngắn. Có nghĩa là cái hồn của chiếc nồi đồng vẫn còn bảo lưu trong chúng ta.

  14. NOBITA nói:

    Mới đầu đông mà lão Chánh nhà ta đã cho đọc Lửa Cuối Đông làm lòng tui thấy ấm áp lạ… Thế cái kỷ vật trao tay ngày ấy nay có còn không ông anh mình ? Bài viết thật dễ cảm!

    • Nam Thi nói:

      Còn, hồi nào tới nhà tớ cho xem. Chuyện về cái nối là thực nhưng có hư cấu chút chút cho ra truyện ngắn.

      Mình đang lo không biết mai nầy trao lại cái nồi cho ai. Ở Tây Sơn mình có sưu tập một số vật dụng nhà bếp của nông thôn BĐ trước đây như nồi đồng, thau đồng, cối đá, cối chày giã gạo, khuôn bánh,…Trong số nầy, có một vài món có giá trị như cái tĩn sành, lu nhiều cỡ, lọ đựng muối sành của Chăm, cái rương xe, bàn xoay…có vẻ rất cổ. Toàn đi xin những thứ người ta vất xó hè.

      Cảm ơn lão Nô.

  15. Ngô Văn Cư nói:

    Đọc xong truyện của anh lại nhớ đoạn thơ trong bài Bếp Lửa của Bằng Việt. Một bếp lửa rất gợi nhớ…
    Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ
    Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
    nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
    Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi
    Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
    Nhóm dậy cả tâm tình tuổi nhỏ
    (Bằng VIệt)
    Cảm ơn anh.

    • Nam Thi nói:

      Chào sáng sớm một người thường dậy sớm.

      Bếp lửa gắn bó với thế hệ anh và tôi. Cái nồi đồng cũng vậy.
      Bây giờ chỉ còn là vang bóng một thời.

      Cảm ơn anh đã đọc mở hàng.

      Kính,

      NT

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s